Fri09182020

Last update04:27:00 AM GMT

Bản Tin Dự Báo Tnn Mặt Lưu Vực Sông Srê Pốk Tháng 7 Năm 2020

There are no translations available.

  1. Kết quả quan trắc số lượng và chất lượng nước tháng 7 năm 2020 được tổng hợp, đánh giá như sau:

* Số lượng nước

– Mực nước trung bình tháng 7 năm 2020 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48689cm, tăng 15cm so với tháng trước, giảm 81cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 8cm so với giá trị tháng 7 TBNN. Giá trị lớn nhất là 48739cm (ngày 27/7), giá trị nhỏ nhất là 48622cm (ngày 17/7).

– Tháng 7 năm 2020, tại trạm Đức Xuyên có 06 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 7 là 21,7m3/s, giảm 0,7m3/s so với tháng trước, giảm 34,9m3/s so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 36,6m3/s so với tháng 7 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 29,6m3/s (ngày 27/7), lưu lượng nước nhỏ nhất là 18,2m3/s (ngày 24/7)

– Trong tháng 7 năm 2020, tổng lượng nước trên sông Ea Krông Nô chảy qua mặt cắt ngang tại trạm Đức Xuyên vào khoảng 58,2 triệu m3, giảm 0,1 triệu m3 so với tháng trước.

* Chất lượng nước

Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại đây theo chỉ số WQI cũng cho thấy: đầu tháng chất lượng nước sông có thể sử dụng cho tưới tiêu, đến giữa tháng chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng cần các biện pháp xử lí phù hợp (do hàm lượng Tổng Coliform và độ đục tăng cao).

  1. Dự báo tài nguyên nước mặt trên từng tiểu vùng thuộc lưu vực sông Srê Pốk

Theo số liệu dự báo mưa từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho thấy khu vực Tây Nguyên có tổng lượng mưa tháng 8/2020 xấp xỉ so với TBNN cùng thời kỳ. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã tiến hành dự báo tổng lượng nước đến các vị trí dự báo trên lưu vực sông Srê Pốk trong tháng 8 năm 2020 như sau:

BẢNG 1.1:        DỰ BÁO TỔNG LƯỢNG NƯỚC ĐẾN TẠI CÁC ĐIỂM DỰ BÁO TRONG THÁNG 7 NĂM 2020 TRÊN LƯU VỰC SÔNG SRÊ PỐK (106 M3)

TT

Vị trí dự báo

Sông

Tổng lượng nước đến

Tăng (+)/ giảm (-) so với TBNN (1981 – 2010)

1

Ia Púck

Ia Drăng

185,1

3,6

2

Hạ Ia Drang

Ia Drăng

541,0

13,9

3

Ia Lâu

Ia Lốp

231,1

-4,8

4

Ea Rôk 1

Ia Hleo

96,9

-51,9

5

Ea Rôk 2

Ia Hleo

60,8

-17,8

6

Ea Súp 1

Ea Súp

39,4

-17,2

7

Ea Súp 2

Ea Súp

44,9

-18,0

8

Ea Rôk

Ia Hleo

274,0

-97,7

9

Ia Mơ

Ia Lốp

461,4

0,9

10

Thống Nhất

SrêPok

18,0

-9,9

11

Krông Búk

SrêPok

28,2

-17,0

12

Ea Kmút

Ea Kar

0,6

-0,5

13

Ea Ô 1

Ea Rok

3,7

-1,2

14

Ea Ô 2

Ea Krông A

9,6

-10,1

15

Liêng SRoin 2

Ea Krông Nô 1

9,6

-10,1

16

Vụ Bổn

Vụ Bồn

1,1

-0,5

17

Ea Yông

Ea Uy

55,5

-40,3

18

Ea Yiêng

SrêPok

17,9

-13,1

19

Hòa Phong

Ea Krông Tut

47,1

-17,1

20

Cuor Đăng

Ea Puôi

1,7

-0,5

21

Hòa Thắng

Ea ChurKap

2,5

-1,0

22

Khuê Ngọc Điền 2

Ea Krông Kmar

10,3

-4,1

23

Ea Trul

Ea Trul

1,4

-0,3

24

Hòa Hiệp

SrêPok

135,4

-76,1

25

Khuê Ngọc Điền 1

Ea Krông Kmar

49,9

-19,6

26

Đại Long 1

Đắk Huer

53,2

-19,5

27

Đại Long 2

Ea Krông Nô

116,4

-26,6

28

Krông Nô 1

Ea Krông Nô

134,2

-32,1

29

Krông Nô 2

Ea Krông Nô

12,7

-4,0

30

Quảng Sơn

Đắk Rting

23,6

-4,8

31

Liêng SRoin 1

Da R Mang

233,2

-30,9

32

Nam Ka

Ea Krông Nô

435,5

-84,2

33

Krông Nô 3

Ea Krông Nô

164,1

-39,8

34

Đăk Phơi

Đắk Phơi

10,6

-3,7

35

Đắk Liêng

suối Đắk Pak

11,5

-4,8

36

Buôn Triết

Eo Lông Ding

4,7

-2,0

37

Bình Hòa

Ea Krông Nô

446,6

-86,8

38

Ea Bông

Ea Bông

0,8

-0,3

39

Nam Đà

SrêPok

461,2

-141,2

40

Ea TLing

SrêPok

574,5

-154,8

41

Ea Kao

BaKao

5,8

-2,3

42

Hòa Phú 1

BaKao

15,3

-6,0

43

Hòa Phú 2

SrêPok

649,3

-177,9

44

Hòa Xuân

Ea Knir

0,6

-0,2

45

Hòa Phú 3

SrêPok

665,7

-181,6

46

Hòa Phú 4

SrêPok

666,8

-181,9

47

Cuôr Knir

SrêPok

689,4

-188,6

48

Ea Kpam

Ea Tul

7,5

-4,3

49

Ea Pók

Ea Tul

16,6

-7,8

50

Ea Wer 2

Ea Tul

40,6

-18,7

51

Ea MDro’h

Đắk Hua

6,7

-4,3

52

Ea Huar

Đắk Hua

10,0

-5,6

53

KRông Na 1

Đắk Minh

4,5

-1,7

54

KRông Na 2

SrêPok

20,0

-5,5

55

Ea Wer 1

SrêPok

698,8

-191,3

56

KRông Na 3

SrêPok

794,4

-237,4

57

KRông Na 4

SrêPok

833,6

-263,6

58

Hạ Ia Hleo

Ia Hleo

911,7

-98,5

BẢNG 1.2:        DỰ BÁO TỔNG LƯỢNG NƯỚC ĐẾN TẠI CÁC TỈNH TRONG THÁNG 7 NĂM 2020 TRÊN LƯU VỰC SÔNG SRÊ PỐK (106 M3)

TT

Tên tỉnh

Tổng lượng nước đến

1

Gia Lai

1.010,61

2

Đăk Lắk

880,54

3

Đăk Nông

226,74

4

Lâm Đồng

326,18

  1. Dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng trên LVS Srê Pốk

Dựa trên kết quả dự báo tổng lượng nước đến trên 58 tiểu vùng, chúng tôi đã tiến hành xác định dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng tại 58 vùng dự báo trên lưu vực sông Srê Pốk. Cụ thể như sau:

BẢNG 1.3:        DỰ BÁO LƯỢNG NƯỚC CÓ THỂ KHAI THÁC SỬ DỤNG TRONG THÁNG 7 NĂM 2020

TT

Vị trí dự báo

Lưu vực sông

Sông

Lượng nước có thể khai thác sử dụng

1

Ia Púck

1

Ia Drăng

178,7

2

Hạ Ia Drang

2

Ia Drăng

523,3

3

Ia Lâu

3

Ia Lốp

222,5

4

Ea Rôk 1

4

Ia Hleo

96,3

5

Ea Rôk 2

5

Ia Hleo

58,9

6

Ea Súp 1

6

Ea Súp

39,0

7

Ea Súp 2

7

Ea Súp

44,5

8

Ea Rôk

8

Ia Hleo

272,1

9

Ia Mơ

9

Ia Lốp

445,1

10

Thống Nhất

10

SrêPok

17,8

11

Krông Búk

11

SrêPok

27,8

12

Ea Kmút

12

Ea Kar

0,6

13

Ea Ô 1

13

Ea Rok

3,7

14

Ea Ô 2

14

Ea Krông A

9,4

15

Liêng SRoin 2

14

Ea Krông Nô 1

9,4

16

Vụ Bổn

15

Vụ Bồn

1,0

17

Ea Yông

16

Ea Uy

52,9

18

Ea Yiêng

17

SrêPok

17,7

19

Hòa Phong

18

Ea Krông Tut

46,5

20

Cuor Đăng

19

Ea Puôi

1,7

21

Hòa Thắng

20

Ea ChurKap

2,3

22

Khuê Ngọc Điền 2

22

Ea Krông Kmar

10,0

23

Ea Trul

23

Ea Trul

1,4

24

Hòa Hiệp

24

SrêPok

130,7

25

Khuê Ngọc Điền 1

24

Ea Krông Kmar

49,8

26

Đại Long 1

25

Đắk Huer

52,5

27

Đại Long 2

26

Ea Krông Nô

109,4

28

Krông Nô 1

27

Ea Krông Nô

125,1

29

Krông Nô 2

28

Ea Krông Nô

11,6

30

Quảng Sơn

29

Đắk Rting

21,4

31

Liêng SRoin 1

30

Da R Mang

214,9

32

Nam Ka

32

Ea Krông Nô

398,2

33

Krông Nô 3

33

Ea Krông Nô

151,8

34

Đăk Phơi

34

Đắk Phơi

9,7

35

Đắk Liêng

35

suối Đắk Pak

10,4

36

Buôn Triết

36

Eo Lông Ding

4,3

37

Bình Hòa

37

Ea Krông Nô

408,2

38

Ea Bông

38

Ea Bông

0,7

39

Nam Đà

39

SrêPok

427,9

40

Ea TLing

40

SrêPok

529,2

41

Ea Kao

41

BaKao

5,4

42

Hòa Phú 1

42

BaKao

14,1

43

Hòa Phú 2

43

SrêPok

593,8

44

Hòa Xuân

44

Ea Knir

0,5

45

Hòa Phú 3

45

SrêPok

609,6

46

Hòa Phú 4

46

SrêPok

610,6

47

Cuôr Knir

47

SrêPok

629,9

48

Ea Kpam

48

Ea Tul

7,4

49

Ea Pók

49

Ea Tul

16,4

50

Ea Wer 2

50

Ea Tul

38,1

51

Ea MDro’h

51

Đắk Hua

5,8

52

Ea Huar

52

Đắk Hua

8,7

53

KRông Na 1

53

Đắk Minh

4,3

54

KRông Na 2

54

SrêPok

18,4

55

Ea Wer 1

55

SrêPok

638,3

56

KRông Na 3

56

SrêPok

721,1

57

KRông Na 4

57

SrêPok

753,2

58

Hạ Ia Hleo

58

Ia Hleo

881,8

  1. Cảnh báo lượng nước thiếu trên LVS Srê Pốk

Dựa trên nhu cầu sử dụng nước thực tế của các ngành sử dụng nước (sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, chăn nuôi, du lịch và môi trường), tổng lượng nước đến dự báo và thông tin khai thác sử dụng nước dưới đất, chúng tôi đã xác định được có 3 tiểu vùng thiếu nước, cụ thể như sau:

BẢNG 1.4:        CÁC TIỂU VÙNG THIẾU NƯỚC TRÊN LVS SRÊ PỐK TRONG THÁNG 7 NĂM 2020 (106 M3)

TT

Tiểu lưu vực

Sông

Lượng nước thiếu

1

Nam Đà

SrêPok

0,041

2

Hòa Phú 1

BaKao

0,074

3

Ea Pók

Ea Tul

0,034

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Tài Nguyên Nước Mặt Tháng 7 Năm 2020

There are no translations available.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có 2 trạm trạm quan trắc TNN mặt (Phú Ninh và An Thạnh). Kết quả quan trắc cho thấy như sau.

Về mực nước:

– Trạm Phú Ninh: Mực nước trung bình tháng 7 năm 2020 trên sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh là 3136 cm, giảm 05cm so với tháng trước, giảm 11cm so với tháng cùng kỳ năm 2019. Giá trị mực nước lớn nhất là 3156cm (ngày 22/7), giá trị mực nước nhỏ nhất là 3131cm (ngày 19/7).

– Trạm An Thạnh: Mực nước trung bình tháng 7 năm 2020 trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh là 312cm, giảm 12cm so với giá trị mực nước tháng trước, tăng 63cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 16cm so với giá trị tháng 7 TBNN. Giá trị mực nước lớn nhất là 335cm (ngày 27/7), giá trị mực nước nhỏ nhất là 288cm (ngày 11/7).

Về lưu lượng nước:

– Trong tháng 7 năm 2020, tại trạm Phú Ninh tiến hành đo lưu lượng nước 02 lần. Lưu lượng trung bình tháng là 7,6m3/s, giảm 4,6m3/s so với tháng trước, giảm 0,5m3/s so với tháng 7 cùng kỳ năm trước. Lưu lượng nước lớn nhất là 8,39m3/s (ngày 05/7), lưu lượng nước nhỏ nhất là 6,87m3/s (ngày 19/7).

– Trạm An Thạnh: Trong tháng 7 năm 2020, tại trạm An Thạnh có 02 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 7 là 50,1m3/s, giảm 17,6m3/s so với tháng trước, tăng 35,7m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 11,6m3/s so với tháng 7 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 51,4m3/s (ngày 24/7), lưu lượng nước nhỏ nhất là 48,7m3/s (ngày 05/7).

Về chất lượng nước:

– Chất lượng nước sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

– Chất lượng nước sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh cho thấy đầu tháng chất lượng nước sông có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt, nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp, từ giữa tháng chất lượng nước sông tốt hơn, có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt.

Vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên có 4 trạm quan trắc TNN mặt (Ya Yun Hạ, Đức Xuyên, Đại Ninh và Cát Tiên). Kết quả quan trắc cho thấy như sau:

Về mực nước:

– Tại trạm Ya Yun Hạ: Mực nước trung bình tháng 7 năm 2020 trên sông Yayun tại trạm Ya Yun Hạ là 20818cm, tăng 24cm so với tháng trước, tăng 16cm so với tháng cùng kỳ năm 2018 và giảm 23cm so với tháng 7 TBNN. Giá trị mực nước lớn nhất là 20868cm (ngày 12/7), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20760cm (ngày 05/7).

– Tại trạm Đức Xuyên: Mực nước trung bình tháng 7 năm 2020 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48689cm, tăng 15cm so với tháng trước, giảm 81cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 8cm so với giá trị tháng 7 TBNN. Giá trị lớn nhất là 48739cm (ngày 27/7), giá trị nhỏ nhất là 48622cm (ngày 17/7).

– Tại trạm Đại Ninh: Mực nước trung bình tháng 7 năm 2020 trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh là 88031cm, tăng 5cm so với tháng trước, tăng 30cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 14cm so với giá trị tháng 7 TBNN. Giá trị lớn nhất là 88088cm (ngày 06/7), giá trị nhỏ nhất là 87995cm (ngày 18/7).

– Tại trạm Cát Tiên: Mực nước trung bình tháng 7 năm 2020 trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên là 12657 cm, giảm 68cm so với tháng trước, giảm 132cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 214cm so với giá trị tháng 7 TBNN. Giá trị lớn nhất là 12785cm (ngày 01/7), giá trị nhỏ nhất là 12569cm (ngày 21/7).

Về lưu lượng nước:

– Tại trạm Ya Yun Hạ: Trong tháng 7 năm 2020, tại trạm YaYun Hạ có 08 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 7 là 23,3m3/s, tăng 3,6m3/s so với tháng trước, tăng 5,4m3/s so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 6,9m3/s so với tháng 7 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 36,1 m3/s (ngày 12/7), lưu lượng nước nhỏ nhất là 11,9 m3/s (ngày 09/7).

– Tại trạm Đức Xuyên: Tháng 7 năm 2020, tại trạm Đức Xuyên có 06 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 7 là 21,7m3/s, giảm 0,7m3/s so với tháng trước, giảm 34,9m3/s so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 36,6m3/s so với tháng 7 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 29,6m3/s (ngày 27/7), lưu lượng nước nhỏ nhất là 18,2m3/s (ngày 24/7).

– Tại trạm Đại Ninh: Tháng 7 năm 2020, tại trạm Đại Ninh có 06 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng trung bình tháng 7 là 23,3m3/s, tăng 5,7m3/s so với tháng trước, tăng 17,7 m3/s so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 1,8m3/s so với tháng 7 TBNN. Lưu lượng lớn nhất là 45,2 m3/s (ngày 06/7), lưu lượng nhỏ nhất là 6,93m3/s (ngày 10/7).

– Tại trạm Cát Tiên: Tháng 7 năm 2020, tại trạm Cát Tiên có 8 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng trung bình tháng 7 là 104m3/s, giảm 30,6m3/s so với tháng trước, giảm 99,1m3/s so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 121,6m3/s so với tháng 7 TBNN. Lưu lượng lớn nhất là 155m3/s (ngày 01/7), lưu lượng nhỏ nhất là 60,9m3/s (ngày 21/7).

Về chất lượng nước:

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông Ya Yun theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông bị ô nhiễm, do các chỉ số TSS, độ đục tăng cao.

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông Ea Krông Nô theo chỉ số WQI cho thấy: đầu tháng chất lượng nước sông có thể sử dụng cho tưới tiêu, đến giữa tháng chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng cần các biện pháp xử lí phù hợp (do hàm lượng Tổng Coliform và độ đục tăng cao).

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông Đa Nhim theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng, cần có những biện pháp xử lý thích hợp (do chỉ tiêu TSS, Tổng Coliform, độ đục, COD tăng cao).

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông Đồng Nai theo chỉ số WQI cho thấy: đầu tháng, chất lượng nước sông có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần biện pháp xử lí phù hợp, đến giữa tháng chất lượng nước sông bị ô nhiễm (do chỉ số Tổng Coliform tăng cao).

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Dự Báo Tài Nguyên Nước Mặt Lưu Vực Sông Sê San Tháng 7 Năm 2020

There are no translations available.

  1.  Dự báo tài nguyên nước mặt trên từng tiểu vùng thuộc lưu vực sông Sê San

Theo số liệu dự báo mưa từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho thấy khu vực Tây Nguyên có tổng lượng mưa tháng 7/2020 xấp xỉ so với TBNN cùng thời kỳ. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành dự báo tổng lượng nước đến các vị trí dự báo trên lưu vực sông Sê san trong tháng 7/2020 như sau:

Bảng 1.1:        Dự báo tổng lượng nước đến tại các điểm dự báo trong tháng 7 năm 2020 trên lưu vực sông Sê San (106 m3)

TT 

Vị trí dự báo 

Sông

Tổng lượng nước đến

Tăng (+)/ giảm (-) so với TBNN (1981 – 2010)

1

Đắk Dục

SêSan

125,8

-22,32

2

Đắk Hà

Đắk Psi

27,8

-14,89

3

Văn Lem

Đắk Ta Kan

35,2

-0,68

4

Pô Cô

SêSan

259,2

-23,89

5

Đắk PXi

Đắk Psi

69,6

-17,32

6

Tân Lập

Đắk Bla

114,4

-19,86

7

Đắk Kôi

Đắk Bla

24,6

-13,12

8

Măng Cành

Đắk Pơ Ne

7,1

0,48

9

Đắk Ruòng

Đắk Bla

37,3

-12,76

10

Đắk Blà

Đắk Bla

153,8

-25,13

11

Ngọk Wang

Đắk Uy

14,4

0,02

12

Sa Bình

SêSan

443,5

-44,41

13

Ngok Réo

Đắk Kle

3,0

0,11

14

Ia Chim

SêSan

64,8

1,69

15

Vinh Quang

Đắk Bla

282,2

-44,79

16

Ia Mơ Nông

SêSan

907,0

-103,05

17

Đắk Đoa

Ia Krom

65,5

-12,67

18

Ia Mơ Nông

SêSan

38,5

-14,11

19

Ia Krai

SêSan

978,8

-125,41

20

Mô Rai_1

Sa Thầy

222,0

-30,71

21

Ia Hrung

Ia Grăng

71,7

-11,86

22

Ia Kha

Ia Grai

93,8

-15,83

23

Mô Rai_2

SêSan

1207,9

-164,92

24

Ia O

SêSan

1210,0

-165,29

25

Ia Krai_25

Ia Grai

71,7

-11,86

26

Ia Dom

SêSan

1511,4

-222,13

Bảng 1.2:        Dự báo tổng lượng nước đến tại các tỉnh trong tháng 7 năm 2020 trên lưu vực sông Sê San (106 m3)

TT

Tỉnh

Tổng lượng nước đến

Ghi chú

1

Kon Tum

3891,9

2

Gia Lai

4149,1

  1. Dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng trên LVS Sê San

Dựa trên kết quả dự báo tổng lượng nước đến trên 26 tiểu vùng, chúng tôi đã tiến hành xác định dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng tại 26 vùng dự báo trên lưu vực sông Sê San. Cụ thể như sau:

Bảng 1.3:        Dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng trong tháng 7 năm 2020

TT

Vị trí dự báo

Lưu vực sông

Sông

Lượng nước có thể khai thác sử dụng

1

Đắk Dục

1

SêSan

114,19

2

Đắk Hà

2

Đắk Psi

23,55

3

Văn Lem

3

Đắk Ta Kan

32,40

4

Pô Cô

4

SêSan

234,55

5

Đắk PXi

5

Đắk Psi

60,99

6

Tân Lập

6

Đắk Bla

102,22

7

Đắk Kôi

7

Đắk Bla

19,86

8

Măng Cành

8

Đắk Pơ Ne

6,79

9

Đắk Ruòng

9

Đắk Bla

31,16

10

Đắk Blà

10

Đắk Bla

137,08

11

Ngọk Wang

11

Đắk Uy

13,36

12

Sa Bình

12

SêSan

397,98

13

Ngok Réo

13

Đắk Kle

2,77

14

Ia Chim

14

SêSan

60,03

15

Vinh Quang

15

Đắk Bla

249,72

16

Ia Mơ Nông

16

SêSan

809,51

17

Đắk Đoa

17

Ia Krom

59,43

18

Ia Mơ Nông

18

SêSan

35,18

19

Ia Krai

19

SêSan

872,06

20

Mô Rai_1

20

Sa Thầy

204,94

21

Ia Hrung

21

Ia Grăng

65,69

22

Ia Kha

22

Ia Grai

85,35

23

Mô Rai_2

23

SêSan

1.075,71

24

Ia O

24

SêSan

1.193,70

25

Ia Krai_25

25

Ia Grai

57,16

26

Ia Dom

26

SêSan

1.348,91

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Và Cảnh Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 7 Năm 2020 Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp).

Chi tiết ở link dưới đây:

https://drive.google.com/file/d/0BzShy1ZOhOlZcGdEdjZHbEN4R0k/view?usp=sharing 

Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu hướng hạ so với tháng 6 với 13/22 công trình có mực nước hạ, 7/22 công trình có mực nước dâng và 2/22 công trình dâng hạ không đáng kể (xem hình 1). Giá trị hạ thấp nhất là 0,52m tại xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam (QT16a-QD) và dâng cao nhất là 0,20m tại xã Bình Minh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi (QT3b-QN).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -9,10m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9a-QN) và nông nhất là -1,19m tại TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT13a-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng không rõ ràng so với thực đo tháng 7.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu hướng hạ so với tháng 6 với 13/22 công trình có mực nước hạ, 7/22 công trình có mực nước dâng và 2/22 công trình dâng hạ không đáng kể (xem hình 1). Giá trị hạ thấp nhất là 0,52m tại xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam (QT16a-QD) và dâng cao nhất là 0,20m tại xã Bình Minh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi (QT3b-QN).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -9,10m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9a-QN) và nông nhất là -1,19m tại TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT13a-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng không rõ ràng so với thực đo tháng 7.

Chi tiết bản tin xem tại đây!

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 7 Năm 2020 Vùng Tây Nguyên

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho vùng Tây Nguyên và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính gồm tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N) như sau. Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 7.

Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q) 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6, có 30/33 công trình mực nước dâng, 1/33 công trình mực nước hạ và 2/33 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 1,16m tại TT.Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (LK153T) và chỉ có một công trình hạ là 0,51m tại xã Quảng Điền, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk (LK76T).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -9,07m tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (LK107aT). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,21m tại xã Ea Kly, huyện Krông Păk, tỉnh Đắk Lắk (LK51T).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 7.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6, có 15/25 công trình có mực nước dâng, 5/25 công trình có mực nước hạ và 5/25 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 1,66m tại xã Đắk Lao, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (LK40T) và hạ thấp nhất là 0,94m tại xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk (CB4-II).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -25,37m tại xã Chư Hrông, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (LK167T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,84m tại xã Biển Hồ, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (LK159T).

Dự báo: mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 7.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-50m) trong tháng 7 độ sâu mực nước trung bình tháng ở TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (LK167T) là -25,37m đạt 50,74%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6, có 52/71 công trình có mực nước dâng, 14/71 công trình có mực nước hạ và 5/71 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 5,89m tại xã Ea Knuếc, huyện Krông Păk, tỉnh Đắk Lắk (C5o) và hạ thấp nhất là 0,64m tại xã Eatu, TP.Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (C15).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -124,17m tại Phường 2, TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (C10o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,32m tại xã Ia Drăng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (LK144T).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 7.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-50m) trong tháng 6 độ sâu mực nước trung bình tháng ở huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai (LK10T) là -25,79m đạt 51,58%; huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai (LK162T) là -27,30m đạt 54,60%; huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai (LK165T) là -31,80m đạt 63,59%; ở TP.Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (C15) là -34,55m đạt 69,09% và ở TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là -53,84m (C10b) đạt 107,68% và -124,17m (C10o) đạt 248,34%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (n)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6, có 17/22 công trình có mực nước dâng, 3/22 công trình có mực nước hạ và 2/22 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất 0,92m tại TT.Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (C7b) và hạ thấp nhất là 0,32m tại xã Đắk Năng, TP.Kon Tum, tỉnh Kon Tum (LK131T).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -20,85m tại xã Ialy, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai (LK62T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,22m tại xã Ea Kmút, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk (LK52T).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 7.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-30m) trong tháng 6 độ sâu mực nước trung bình tháng ở TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum (LK131T) là -20,46m đạt 68,21%; huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum (LK139Tm1) là -19,76m đạt 65,86% và ở huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai (LK62T) là -20,85m đạt 69,51%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh các khu vực này.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 7 Năm 2020 Vùng Nam Bộ

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho toàn vùng Nam Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22) và tầng chứa nước Pliocene hạ (n21).

Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 7.

Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 38/60 công trình mực nước dâng, 5/60 công trình mực nước hạ và 17/60 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 1,83m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP.Hồ Chí Minh (Q01302F) và giá trị hạ thấp nhất là 0,79m tại xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (Q683020).

Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là -12,24m tại Phường 3, TP.Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (Q59801Z). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,90m tại xã Truông Mít, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (Q00102CM1).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 7.

Tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 33/54 công trình mực nước dâng, 6/54 công trình mực nước hạ và 15/54 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 2,21m tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP.Hồ Chí Minh (Q003340) và giá trị hạ thấp nhất là 0,25m tại xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (Q631030).

Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là -28,72m tại phường Đông Hưng, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh (Q019340). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,18m tại xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (Q22002Z)  .

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 7.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-40m) tại Thành phố Hồ Chí  Minh trong tháng 7 độ sâu mực nước trung bình tháng ở quận 12, phường Đông Hưng là -28,72m (Q019340) đạt 71,8% và phường Trung Mỹ Tây là -22,54m (Q011340) đạt 56,35%. So với mực nước hạ thấp cho phép (-30m) tại tỉnh Bạc Liêu ở phường 1, TX Giá Rai là -15,55m (Q609030) đạt 51,83%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 28/49 công trình mực nước dâng, 6/49 công trình mực nước hạ và 15/49 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 1,35m tại xã Bình Đông, TX Gò Công, tỉnh Tiền Giang (Q622040) và giá trị hạ thấp nhất là 0,47m tại xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là -25,87m tại Phường 5, Tp Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Q188030). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,92m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040020).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng nhẹ so với mực nước thực đo tháng 7.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-40m) tại Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 7 độ sâu mực nước trung bình tháng ở quận 12, phường Hiệp Thành là -20,08m (Q017030M1) đạt 50,2%. So với mực nước hạ thấp cho phép (-30m) tại tỉnh Đồng Nai ở xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch là -19,42m (Q039340M1) đạt -64,73%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pliocene trung (n22)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 26/52 công trình mực nước dâng, 9/52 công trình mực nước hạ và 17/52 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 1,19m tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (Q630050) và giá trị hạ thấp nhất là 0,56m tại Phường 1, TX Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (Q609050).

Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là -25,20m tại phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh (Q011040). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,90m tại Phường 1, TX Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (Q22104Z).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 7.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-40m) tại Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 7 độ sâu mực nước trung bình tháng ở phường Trung Mỹ Tây, quận 12 là -25,20m (Q011040) đạt 63,00% và ở xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh là -20,00m (Q808040) đạt 50,00%. So với mực nước hạ thấp cho phép (-30m) tại tỉnh Long An ở xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa là -22,33m (Q604050) đạt 74,43% và tại tỉnh Đồng Tháp ở xã Hòa Long, huyện Lai Vung là -16,07m (Q206030M1) đạt 53,57%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pliocene hạ (n21)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 17/39 công trình mực nước dâng, 6/39 công trình mực nước dâng và 16/39 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,89m tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (Q630060) và giá trị hạ thấp nhất là 0,23m tại xã Châu Hưng, huyện Thanh Trị, tỉnh Sóc Trăng (Q618060).

Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là -23,78m tại xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (Q604060). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -6,16m tại xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (Q222040)

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu hướng dâng hạ không rõ ràng so với mực nước thực đo tháng 7.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-30m) trong tháng 7 độ sâu mực nước trung bình tháng tại tỉnh Long An ở xã Hòa Long, huyện Lai Vung là -16,31m (Q206040M1) đạt 54,37% và tại tỉnh Cà Mau ở phường 9, TP Cà Mau là -23,29m (Q17704ZM1) đạt 77,63%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 7 Năm 2020 Vùng Bắc Trung Bộ

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước cho 2 khu vực phía Bắc (Thanh Hóa và Nghệ An), khu vực phía Nam (Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế) của vùng Bắc Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính Holecene (qh) và Pleistocene (qp). Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 7.

TẦNG CHỨA NƯỚC HOLOCENE (qh) 

Khu vực phía Bắc vùng Bắc Trung Bộ

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu thế hạ so với tháng 6, với 25/29 công trình có mực nước hạ, 4/29 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,18m tại xã Quang Phong, huyện Thái Hòa, tỉnh Nghệ An (QT1a-HÐ).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,00m xã Trung Chính, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (QT11-TH) và sâu nhất là -14,56m tại xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (QT2-HÐ).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu thế dâng so với mực nước thực đo tháng 7 với 19/29 công trình mực nước dâng, 7/29 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/29 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m tập trung ở khu vực huyện Đô Lương (tỉnh Nghệ An); dâng >1,0m tập trung ở khu vực huyện Thái Hòa (tỉnh Nghệ An).

Khu vực phía Nam vùng Bắc Trung Bộ

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu thế hạ so với tháng 6, với 32/37 công trình có mực nước hạ, 4/37 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/37 công trình có mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 1,53m tại xã Phú Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (QT6a-QB) và dâng cao nhất là 0,13m tại xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (QT17-QB).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,72m tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (QT3a-H) và sâu nhất là -9,17m tại xã Sơn Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (QT3-HS).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu thế hạ so với mực nước thực đo tháng 7 với 25/37 công trình mực nước hạ, 8/37 công trình mực nước dâng và 4/37 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước hạ >1,0m tập trung ở khu vực huyện Bố Trạch, Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình).

TẦNG CHỨA NƯỚC PLEISTOCENE (QP)

Khu vực phía Bắc vùng Bắc Trung Bộ

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu thế hạ so với tháng 6 với 26/33 công trình có mực nước hạ, 6/33 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/33 công trình có mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 1,23m xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (QT7-NA) và dâng cao nhất là 0,08m tại xã Ngọc Lĩnh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (QT14a-TH).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,86m tại xã Hưng Hòa, TP.Vinh, tỉnh Nghệ An (QT12b-NA) và sâu nhất là -13,13m xã Hùng Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An (QT2a-CC).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu thế dâng so với mực nước thực đo tháng 7 với 27/33 công trình mực nước dâng, 5/33 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/33 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m phân  bố ở khu vực huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa) và huyện Đô Lương, Nghi Lộc, Anh Sơn, Quỳ Hợp (tỉnh Nghệ An); mực nước dâng >1,0m tập trung ở khu vực huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Khu vực phía Nam vùng Bắc Trung Bộ

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 có xu thế hạ so với tháng 6, với 25/38 công trình có mực nước hạ, 11/38 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể và 2/38 công trình có mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 1,31m tại TT.Phố Châu, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (QT2b-HS) và dâng cao nhất là 0,24m tại xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Xuyên , tỉnh Hà Tĩnh (QT5a-HT).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,24m tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (QT3b-H) và sâu nhất là -8,61m tại xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (QT4a-HK).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu thế hạ chiếm ưu thế so với mực nước thực đo tháng 7 với 17/38 công trình mực nước hạ, 14/38 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 7/38 công trình dâng.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 7 Năm 2020 Vùng Bắc Bộ

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp).

Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 7.

Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế hạ chiếm ưu thế, có 20/42 công trình mực nước hạ, 14/42 công trình mực nước dâng và 8/42 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,45m P. Lam Sơn, TP.  Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên (Q.129M1) và giá trị dâng cao nhất là 1,32m tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.10M1).

Trong tháng 7: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,17m tại xã Hải Thành, huyện Dương Kinh, TP. Hải Phòng (Q.165) và sâu nhất là -12,51m tại P. Tứ Liên, Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 có xu thế dâng so với mực nước thực đo tháng 7.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế hạ, với 31/62 công trình mực nước hạ, 12/62 công trình mực nước dâng và 19/62 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 6,61m tại P. Minh Khai, Q. Từ Liêm, TP. Hà Nội (Q.62a) và giá trị hạ thấp nhất là 0,67m tại xã Hải Tây, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (Q.110a).

Trong tháng 7: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,29m tại P. Lê Hồng Phong, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (Q.82a) và sâu nhất là -29,32m tại P. Dịch Vọng, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội (Q.63aM).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu thế dâng so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: Các cơ quan quản lý tài nguyên nước và các hộ khai thác nước dưới đất cần chú ý đến lượng khai thác và chế độ khai thác hợp lý tại phường Mai Dịch quận Cầu Giấy và phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội vì mực nước dưới đất tại đây đã chạm ngưỡng cảnh báo cấp 1 là 83-85 % giá trị giới hạn cho phép.

Xem chi tiết tại đây.