Sun10222017

Last update02:00:00 PM GMT

Công trình dự án

Sử dụng hiệu quả trang thiết bị hiện đại trong công tác khoan thăm dò nước ngầm

IMG_4395.1reNgày 29/9/2017, Tổng Giám đốc Tống Ngọc Thanh đã có chuyến thực địa, khảo sát tiến độ thực hiện Dự án “Đầu tư xây dựng hệ thống khai thác nước ngầm” và thăm hỏi, động viên, tặng quà công nhân các tổ đội sản xuất tại tỉnh Nam Định.

Nghiên cứu giải pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước tại các vùng núi cao karst Đông Bắc Việt Nam phục vụ phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội hiệu quả

Vùng Đông Bắc Việt Nam được giới hạn về phía bắc và đông bởi đường biên giới Việt-Trung. Về phạm vi hành chính, vùng đông bắc bao trùm các tỉnh Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc GiangQuảng Ninh.

Phạm vi vùng núi cao Karst Đông Bắc là 9.149 km2 bao gồm phần lớn diện tích tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn và một phần diện tích phân bố karst thuộc tỉnh Lạng Sơn và Tuyên Quang.

Hiện nay, việc khai thác, sử dụng nguồn nước vùng karst Đông Bắc chủ yếu là các hình thức khai thác: Giếng đào, giếng khoan đứng, giếng khoan nghiêng và khoan ngang, vách nhả nước và hồ treo, bơm hút nước từ hang động, mạch nước, khai thác nước từ các mạch nước, đập - cống điều tiết nước hang động, đê đập hồ nổi, hồ đáy van.

Các nghiên cứu về tài nguyên nước vùng núi cao karst Đông Bắc Việt Nam đã chỉ ra được các vùng có tiềm năng khai thác các nguồn nước và định hướng khai thác sử dụng, tuy nhiên chưa nghiên cứu cụ thể nguồn hình thành trữ lượng các nguồn nước, khả năng khai thác sử dụng bền vững của nguồn nước nên hiện nay nhiều công trình đã được đi vào khai thác tuy nhiên sau nhiều năm vận hành đến nay đã suy giảm về trữ lượng và chất lượng.

- Do những đặc điểm riêng của vùng miền núi cao đá vôi karst cả trên thế giới cũng như ở Việt Nam, như địa hình hiểm trở, nguồn nước mặt khan hiếm, nguồn nước ngầm phân bố ở sâu và khó định vị, khó khai thác, nguồn nước mặt dễ bị ô nhiễm… nên việc tìm kiếm, khai thác và cung cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn thiên nhiên, bảo bệ môi trường ở các vùng núi đá vôi karst Đông Bắc Việt Nam từ bao đời nay vẫn luôn là vấn đề nan giải.

DL16

- Do nước ngầm vùng karst Đông Bắc Việt Nam được hình thành, phân bố và vận động rất phức tạp nên việc áp dụng các phương pháp khai thác, sử dụng cũng hết sức khó khăn. Tùy từng vùng, điều kiện cụ thể có thể áp dụng các phương pháp khai thác sử dụng như giếng đào, giếng khoan…

Từ các tài liệu thu thập tiến hành phân tích, đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất, kiến tạo trong việc hình thành trữ lượng khai thác nước dưới đất vùng núi cao karst Đông Bắc Việt Nam, đặc điểm các hang động karst và mối quan hệ với nước dưới đất vùng núi cao karst Đông Bắc, nghiên cứu đánh giá chất lượng các nguồn nước mặt, nước dưới đất từ các nghiên cứu giai đoạn trước và các dự án đang được triển khai thực hiện trên vùng nghiên cứu để đánh giá đặc điểm phân bố của các nguồn nước và tính toán tài nguyên các nguồn nước trên vùng nghiên cứu.

Sau khi nghiên cứu được đặc điểm phân bố và tiềm năng tài nguyên (trữ lượng và chất lượng) các nguồn nước khu vực núi cao karst Đông Bắc, đề tài dự kiến nghiên cứu đánh giá khả năng khai thác sử dụng các nguồn nước ( nước mưa, nước mặt, nước dưới đất) tại từng khu vực có các điều kiện phân bố và tài nguyên nguồn nước khác nhau phục vụ đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng các nguồn nước vùng nghiên cứu.

Từ đó, đề xuất giải pháp khai thác sử dụng bền vững nguồn nước khu vực núi cao karst Đông Bắc Việt Nam bằng giếng khoan và bằng mạch lộ.

(Hải lý)

TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐẢO CÔ TÔ (P2)

Timage007_copy_copyThung lũng tình yêurữ lượng động tự nhiên là lưu lượng dòng ngầm được đảm bảo bằng sự cung cấp, được tính cho vùng nước nhạt bằng 2 phương pháp: tính theo lượng ngấm của nước mưa và phương pháp cân bằng có kết quả như sau. 

Phương pháp tính theo lượng ngấm của nước mưa.

Trong điều kiện không có tài liệu quan trắc ở các lỗ khoan, lượng ngấm từ nước mưa tính gần đúng theo công thức sau

CT2

Trong đó:

Qkt: Trữ lượng khai thác tiềm năng, m3/ngày

Qđ : Trữ lượng động tự nhiên, m3/ngày

Wn : Lượng mưa trung bình năm, m

F: Diện tích nước nhạt của tầng chứa nước, m2

a : Hệ số ngấm của nước mưa.

Hệ số ngấm của nước mưa xác định theo kinh nghiệm đối với tầng chứa nước q là 0,15 và đối với tầng chứa nước o-s­ là 0,08. Trữ lượng động tự nhiên nước dưới  đối với tầng q xác định được là  3.216 m3/ng, tầng o-s là  3.429 m3/ng, cả 2 tầng là 6.645 m3/ngày, đó cũng là trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất. 

Phương pháp cân bằng

Khi kỹ thuật phát triển, có thể tích trữ toàn bộ lượng mưa rơi trên lãnh thổ vào lòng đất  để sử dụng. Khi đó, đại lượng cung cấp cho nước dưới đất được tính bằng lượng mưa trừ lượng bốc hơi. Để phù hợp với các mục đích sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt, lượng mưa năm cần tính với tần suất 95%. Theo kết quả tính toán trên đây, lượng mưa năm có tần suất 95% là 1.110 mm. Lượng bốc hơi trung bình ở vùng Cô Tô là 925 mm/năm. Lượng mưa thấm cung cấp cho nước dưới đất tính được là 175  mm /năm, trữ lượng khai thác tiềm năng trên diện tích 13,5 km2 của 2 tầng chứa nước q và o-s trên  đảo Cô Tô xác định là 6.472 m3/ng .  

Hai phương pháp trên cho kết quả gần  nhau, tuy nhiên để thiên về phía an toàn sử dụng kết quả thấp hơn. Theo đó, 6.472 m3/ng được chọn là trữ lượng động tự nhiên, đồng thời là trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất. Mô đun trữ lượng tiềm năng tính được là  479 m3/ng.km2, thuộc loại có khả năng khai thác trung bình. 

Trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất là lưu lượng ổn định có thể khai thác ở một tầng chứa nước xác định bằng cách tính toán nhờ các công trình khai thác được bố trí hợp lý về mặt kinh tế-kỹ thuật  trong một thời gian nhất định mà không làm thay đổi chất lượng, không làm cạn kiệt tầng chứa nước và tác động không đáng kể đến môi trường. Theo kinh nghiệm thực tế ở nước ta, trữ lượng có thể khai thác thường bằng khoảng từ 20 đến 60% trữ lượng khai thác tiềm năng. Đối với vùng đảo Cô Tô lấy bằng 30%. Như vậy trữ lượng có thể khai thác là 1.941 m3/ng 

Trữ lượng khai thác nước dưới đất là lượng nước có thể lấy lên được từ các công trình được bố hợp lý về kinh tế - kỹ thuật có lưu lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu trong suốt thời kì khai thác, không gây tranh chấp nguồn nước, không tác động xấu tới  môi trường. Trữ lượng khai thác được xác định từ kết quả điều tra, đánh giá và thăm dò nước dưới  đất bằng các công trình cụ thể. Đảo chỉ có 2 công trình điều tra, đánh giá nước dưới đất năm 1999 và 2013 cho phép xếp trữ lượng vào cấp C1 theo lưu lượng thực bơm ổn định vào mùa khô, có chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn cho phép ở 12 lỗ khoan là 1.144 m3/ng.

Định hướng khai thác sử dụng tài nguyên nước

Giải pháp khai thác sử dụng. Vùng đảo Cô Tô, diện tích nhỏ hẹp, các nguồn nước trên mặt rất khan hiếm: không có hồ tự nhiên, các dòng chảy trên mặt chỉ tồn tại tạm thời. Những năm vừa qua đã xây dựng kiên cố các hồ chứa nhân tạo có dung tích từ 2.400 đến 40.000 m3 nhằm tích trữ nước mưa để cung cấp cho các nhu cầu ăn uống sinh hoạt và phục vụ nông nghiệp. Tuy nhiên thực tế khai thác cho thấy nhiều hồ bị cạn về mùa khô, đã làm giảm công suất khai thác, cho thấy giải pháp cung cấp nước tập trung bằng nguồn nước trên mặt không bền.  

Kết quả điều tra, đánh giá nước dưới đất cho thấy việc lựa chọn các nguồn nước dưới đất có tính bền vững hơn: Tầng chứa nước o-s có thể xây dựng các công trình cấp nước mini có công suất từ 50 đến 200 m3/ng phục vụ cho các tụ điểm dân cư. Khu vực thị trấn có nhu cầu lớn nhất, với 3 lỗ khoan CT7, CT8 và CT9 hiện có ở đây có thể xây dựng công trình cấp nước tập trung với công suất 435 m3/ng có thể đáp ứng được nhu cầu nước hiện tại.

Giải pháp bảo vệ các nguồn nước. Huyện đảo Cô Tô đang trên đà phát triển. Dân cư tập trung ngày một đông đúc, kinh tế các ngành và du lịch sẽ phát triển mạnh mẽ. Vấn đề bảo vệ môi trường nói chung phải được quan tâm thích đáng. Nếu môi trường được bảo vệ tốt thì nước dưới đất cũng được bảo vệ tốt. Các giải pháp bảo vệ môi trường cũng đồng thời là các giải pháp bảo vệ nước dưới đất. Mặt khác cần điều tra phân vùng lãnh thổ  theo mức độ tự bảo vệ nước dưới đất, trên cơ sở đó quy hoạch việc phân bố nghĩa trang, các bải thải, điểm  xả thải…Bảo vệ nguồn nước dưới đất còn được định hướng theo các giải pháp phòng, chống nhiễm mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng. 

Giải pháp phát triển tài nguyên nước. Để nâng cao trữ lượng khai thác nước dưới đất, một mặt tiếp tục xây dựng các trạm cấp nước mini ở các vị trí có triển vọng đã phát hiện, mặt khác tiếp tục điều tra đánh giá để phát hiện thêm các điểm có triển vọng và điều tra đánh giá với mục tiêu xây dựng trạm cấp nước có công suất lớn hơn đến khoảng trên dưới 500 m3/ng trên cơ sở khai thác nhóm 3 - 4 giếng khoan. Để phục vụ các nhu cầu lớn hơn nữa cần điều tra đánh giá bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất bằng cách thu gom nước mưa lưu trữ vào lòng đất để nước có chất lượng tốt và khai thác với công xuất lớn hơn. Thực hiện điều này bằng cách xây dựng các tường chắn ven biển, tường chắn dạng bậc thang trên các sườn và thung lũng để tích trữ nước mưa vừa lấy nguồn bổ sung cho nước dưới đất vừa để phục vụ các mục đích khác. 

Thu gom nước mưa vào mùa mưa, tích trữ vào lòng đất để sử dụng là biện pháp hữu hiệu, có tính khả thi cao được áp dụng ở nhiều quốc gia khan hiếm nước có trình độ khoa học-công nghệ tiên tiến trên thế giới. Bổ sung nhân tạo -lưu trữ nước mưa với lòng đất cần được thực hiện với phương trâm:không để cho nước mưa, dù chỉ một giọt chảy ra biển”. 

Lời kết

image001_copy_copy

Quần đảo Cô Tô

Đảo Cô Tô tuy rất khan hiếm nguồn nước, song với kết quả điều tra đánh giá này sẽ mở ra phương hướng thích hợp có thể đáp ứng không những nhu cầu hiện tại mà cả trong tương lai.

Người viết bài này hy vọng, Cô Tô rồi đây sẽ hết khát, tạo đà cho kinh tế phát triển với mũi nhọn là ngành du lịch. Hy vọng các bãi biển sẽ luôn luôn tấp nập đông vui, thung lũng Tình Yêu thơ mộng sẽ là vườn ươm tuyệt vời, luôn luôn đầy ắp các cặp đôi, để các mầm non nảy lộc đâm chồi trên khắp mọi miền đất nước ta.

(PGS.TS. Nguyễn Văn Đản)


 


TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐẢO CÔ TÔ (P1)

LTS: Là huyện đảo nằm ở Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, Cô Tô có vị trí chiến lược quan trọng. Trong những năm gần đây, Nhà nước dành nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng huyện đảo Cô Tô, trong đó đã xây dựng nhiều hồ chứa nước cấp cho sinh hoạt, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp. Từ 2011 đến 2013, theo yêu cầu của UBND Quảng Ninh, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc đã thực hiện hoàn thành dự án “ Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho quần đảo Cô Tô”, kết quả đã làm sáng tỏ các đặc điểm về tài nguyên nước làm căn cứ lập kế hoạch cung cấp nước.

Bảo vệ tài nguyên nước mặt bằng mô hình Nơ ron nhân tạo

Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển kéo theo đó là lượng chất thải xả ra môi trường ngày càng lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tài nguyên nước ở khu vực xả thải và tác động xấu đến các hoạt động kinh tế - xã hội thì việc đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ tài nguyên nước đang là vấn đề mang tính cấp thiết.

Phân bổ tài nguyên nước bằng bài toán quy hoạch tuyến tính - Hướng đi mới mẻ và hiệu quả

Bài toán quy hoạch tuyến tính được xem là một bài toán mang tính ứng dụng cao, nó được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong đó có thể hiểu đây là bài toán tối ưu hóa một mục tiêu nào đó trong điều kiện ràng buộc bởi các biến số có liên quan.

Ngăn chặn xâm nhập mặn và ngọt hóa mạch nước ngầm bằng nước mưa

mua1Mô hình tuần hoàn nướcNgày nay, nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống cũng như các hoạt động phát triển kinh tế của con người. Việc bảo tồn và duy trì nguồn nước luôn là một trong những vấn đề nóng được cả thế giới quan tâm. Trong vòng hai thập kỷ trở lại đây, ngày càng nhiều các hội thảo, các cuộc họp ở các quy mô khác nhau bàn về vấn đề quy hoạch và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt này.