Thu01202022

Last update06:35:23 AM GMT

Công trình dự án

Lập nhiệm vụ Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Srêpôk đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Trong năm 2021, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ phải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Srêpôk đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết để giải quyết những tồn tại trong khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra trong điều kiện biến đổi khí hậu nhằm chủ động được nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương trên lưu vực sông Srêpôk.

Tăng cường quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước lưu vực sông Hồng – Thái Bình

Nguồn tài nguyên nước trên các lưu vực sông, trong đó có lưu vực sông Hồng – Thái Bình đang được khai thác quy mô lớn để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì thế, để phát triển bền vững đòi hỏi phải mang tính chiến lược và tài nguyên nước đóng một vai trò then chốt và không thể tách rời khỏi phát triển bền vững.

Hiện nay, trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình hầu hết đã có quy hoạch của các ngành khai thác, sử dụng nước như thủy lợi, thủy điện, nuôi trồng thủy sản, cấp nước sinh hoạt đô thị và nông thôn. Tuy nhiên, các quy hoạch này chỉ tập trung đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng nước của từng ngành mà chưa xem xét đánh giá toàn diện tiềm năng nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước của các ngành khác cũng như nhu cầu bảo đảm dòng chảy tối thiểu và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.

Để có thể khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình bảo đảm phát triển bền vững, cần thiết phải lập quy hoạch tài nguyên nước, trong đó nội dung về phân bổ nguồn nước cần đặc biệt quan tâm trong các phương án quy hoạch. Đây cũng chính là lý do của việc thực hiện dự án Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050.

* Mục tiêu dự án:

- Cụ thể hóa các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước, Kế hoạch hành động nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ, phòng, chống giảm thiểu tác hại do nước gây ra;

- Gắn kết yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên nước với khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng;

- Làm cơ sở cho việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng nước của các ngành có liên quan và triển khai các dự án đầu tư xây dựng các công trình khai thác, sử dụng nước, phát triển tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng-Thái Bình.

* Nội dung quy hoạch:

- Đánh giá hiện trạng: Khai thác, sử dụng nước, Bảo vệ tài nguyên nước, Phòng chống tác hại 

- Xây dựng kịch bản, tầm nhìn Quy hoạch dài hạn đến 2050 

- Phân tích, dự báo: nhu cầu sử dụng nước, chất lượng nước, số lượng nước 

- Xây dựng phương án quy hoạch: phân bổ, bảo vệ, phòng chống 

- Đánh giá tác động các phương án quy hoạch: phát triển nguồn nước; xã hội – kinh tế- môi trường ;quản lí nguồn nước nội địa

- Giải pháp quy hoạch

* Phạm vi quy hoạch:

- Phạm vi nghiên cứu của Quy hoạch là toàn bộ lưu vực sông Hồng - Thái Bình với tổng diện tích 169.000 km2 (gồm cả phần diện tích lưu vực thuộc Trung Quốc và Lào);

- Phạm vi lập Quy hoạch là phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam với diện tích tự nhiên 88.680 km2, gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình.

Với đối tượng lập Quy hoạch là nguồn nước mặt, nước dưới đất trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình thì việc lập quy hoạch hướng tới phát triển bền vững và tầm nhìn dài hạn luôn là sự ưu tiên của Chính phủ, hướng tới một xã hội văn minh, phát triển hài hòa với bảo vệ môi trường sống cho thế hệ tương lai.

Sản phẩm của quy hoạch là báo cáo thuyết minh Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; các bản đồ tỷ lệ 1/200.000; mô hình đánh giá, dự báo dòng chảy, cân bằng nước; và các hồ sơ kèm theo.

Các vấn đề về tài nguyên nước trong lưu vực sông Hồng – Thái Bình

Lưu vực sông Hồng - Thái Bình là một lưu vực sông liên quốc gia chảy qua 3 nước Việt Nam, Trung Quốc, Lào với tổng diện tích tự nhiên vào khoảng 169.000km2, trong đó khoảng 88.680km2 thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đây là con sông lớn thứ hai (sau sông Mêkông) chảy qua Việt Nam đổ ra biển Đông, là nơi sinh sống của khoảng 29,1 triệu người và có ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu kinh tế quốc gia.

Nội dung thực hiện và kết quả đạt được của công tác giải đoán ảnh viễn thám trong điều tra, đánh giá, lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50.000 cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Hiện nay công nghệ viễn thám và GIS được ứng dụng rộng rãi và rất có hiệu quả đặc biệt là ở các vùng có điều kiện giao thông đi lại khó khăn, tiết kiệm được khá nhiều thời gian. Phương pháp này được ứng dụng làm cơ sở xây dựng phương án, lộ trình điều tra, kết hợp với điều tra thực địa để xác định các đặc trưng hình thái sông ngòi và lưu vực, hiện trạng lớp phủ; xác định sơ bộ tầng chứa nước, nguồn lộ, vị trí hồ chứa, hồ tự nhiên… hỗ trợ công tác điều tra tài nguyên nước. Với tính ứng dụng cao đó, dự án “Điều tra, đánh giá, lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50.000 cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” đã lựa chọn phương pháp này để giải đoán ảnh viễn thám phục vụ đánh giá chi tiết tiềm năng, đặc điểm phân bố, trữ lượng, chất lượng tài nguyên nước vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Nội dung thực hiện như sau: 

- Mục đích:

Đối với nước mặt: Nhằm xác định các thông tin về đặc điểm, đặc trưng hình thái sông, suối; các nguồn nước và công trình khai thác sử dụng nước; các đối tượng, khu vực trọng điểm như: đoạn sông bồi xói, sạt lở; phân lưu, nhập lưu; đoạn sông có hiện tượng ô nhiễm, suy thoái chất lượng nước làm cơ sở cho việc điều tra, khảo sát; phân tích, đánh giá tài nguyên nước mặt và các yếu tố liên quan trong vùng nghiên cứu.

Đối với nước dưới đất: Xác định vị trí, quy mô các đới phá hủy kiến tạo, các đới có triển vọng chứa nước, khu vực xuất lộ nước và các cấu trúc có thể lưu giữ nước; Giải đoán đặc điểm tài nguyên nước ở vùng núi cao có điều kiện giao thông phức tạp, đi lại khó khăn.

- Phạm vi:

Giải đoán ảnh vệ tinh tỷ lệ 1/50.000 trên toàn bộ phạm vi nghiên cứu của Dự án, trong đó yêu cầu phân tích giải đoán chi tiết tại các vùng núi cao (16.440 km2) và giải đoán sơ bộ tại các vùng trung du, đồng bằng ven biển (11.520 km2).

- Mức độ chi tiết:

Đối với nước mặt:

+ Phạm vi, sự phân bố của các nguồn nước mặt như: vị trí các vật thể chứa nước bề mặt, phạm vi mặt nước của sông suối, hồ, ao, đầm phá.

+ Đặc điểm hình thái sông, suối như: chiều dài sông, phạm vi và độ rộng lòng, bãi sông, đặc điểm địa hình (dốc, bằng phẳng) và loại hình thảm phủ thực vật ở lòng sông, bãi sông dọc các sông, suối.

+ Vị trí các công trình khai thác sử dụng nước như: cống, đập, trạm bơm, đê, kè...

+ Các khu vực đoạn sông, hồ ao có vấn đề như: đoạn sông bị bồi xói, sạt lở bờ, bãi sông; đoạn sông bị xâm nhập mặn; đoạn sông bị cạn kiệt, mất (đứt) dòng chảy; đoạn sông bị lũ lụt (ngập lụt, úng); đoạn sông, hồ ao bị ô nhiễm chất lượng nguồn nước mặt.

Đối với nước dưới đất:

+ Thành lập sơ đồ kết quả phân tích giải đoán ảnh, trên đó thể hiện các thông tin: Ranh giới các thành tạo địa chất, các cấu trúc địa chất lớn trong vùng, các đới nâng hạ kiến tạo, các đới dập vỡ, đứt gãy (dài hơn 2 km); các điểm lộ, sông ngầm và thành phần thạch học của đất đá.

Kết quả đạt được:

- Đối với tài nguyên nước mặt: dự án đã sử dụng ảnh viễn thám và các phần mềm số hóa bản đồ để xây dựng bộ bản đồ trạng thái mặt nước, báo cáo thuyết minh kết quả giải đoán, phân tích ảnh vệ tinh tỷ lệ 1/50.000 và các sơ đồ giải đoán ảnh vệ tinh tỷ lệ 1/50.000, kết quả là thành lập được bảng danh sách các ao, hồ, đầm phá thuộc tỉnh Bình Định.

22-2a-2-1

- Đối với tài nguyên nước dưới đất: 5 yếu tố đầu vào được sử dụng để tích hợp trong GIS để thành lập sơ đồ tiềm năng nước ngầm gồm: mật độ lineament và đứt gãy; địa chất thủy văn; độ dốc; mật độ sông suối và đất. Theo đó, thành lập được sơ đồ tiềm năng nước ngầm hay tài nguyên nước dưới đất khu vực tỉnh Bình Định.

Kết quả phân tích thống kê chỉ ra rằng tổng diện tích đất nước ngọt và nước mặn thuộc tỉnh Bình Định lần lượt là 5.756.78 km2 và 268,22km2. Trong phần nước ngọt, diện tích nhóm có tiềm năng nước ngầm hay tài nguyên nước dưới đất ở mức cao và rất cao chiếm 20,44%. Trong khi đó diện tích nhóm có tiềm năng nước ngầm hay tài nguyên nước dưới đất thấp và rất thấp chiếm 67,32%. Nhóm diện tích nhóm có tiềm năng nước ngầm hay tài nguyên nước dưới đất ở mức trung bình chiếm 12,24%.

Bảng thống kê diện tích và tỷ lệ phần trăm diện tích của các nhóm tiềm năng nước ngầm khác nhau tại khu vực tỉnh Bình Định.

22-2a-2-2

Công tác phân tích giải đoán ảnh viễn thám đã giải quyết được mục tiêu đặt ra của Dự án. Để thành lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1/50.000 cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, các công tác khác vẫn đang được hoàn thiện theo đúng tiến độ. Kết quả của dự án nhằm phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên nước, công tác lập quy hoạch, bảo vệ tài nguyên nước; góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin tài nguyên nước quốc gia.


 

Những bất cập trong điều tra, khai thác và sử dụng nguồn nước vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Trong những năm qua, từ những dữ liệu hệ thống quan trắc tài nguyên và môi trường cho thấy, tài nguyên nước tại một số vùng của nước ta, trong đó có vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đã có dấu hiệu suy thoái, cạn kiệt dẫn đến mất cân bằng về cung - cầu và tác động tiêu cực đến chất lượng nguồn nước. Các tài liệu hiện có chưa cung cấp đầy đủ số liệu và mức độ tin cậy về hiện trạng nói trên. Cụ thể, thực trạng điều tra, khai thác và sử dụng nguồn nước ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung còn có một số vấn đề bất cập sau:

Đối với tài nguyên nước mặt: 

- Mức độ nghiên cứu tài nguyên nước mặt tỷ lệ 1:50.000 chưa được điều tra;

- Thiếu các thông tin về số lượng, chất lượng các nguồn nước do mạng quan trắc khí tượng thủy văn, tài nguyên nước, chất lượng nước còn thưa thớt;

- Thiếu thông tin về khai thác sử dụng nước và vận hành các công trình khai thác sử dụng nước thuộc vùng nghiên cứu vì thế không có căn cứ cân đối nguồn nước cho khai thác nước, phòng chống xâm nhập mặt vùng cửa sông.

- Nguy cơ suy thoái nguồn nước do tác động của khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn, đặc biệt là từ năm 2006 trở lại đây do việc gia tăng các công trình trữ nước ở thượng nguồn càng làm cho căng thẳng nguồn nước tăng cao về mùa khô và gia tăng xâm nhập mặn vùng hạ lưu, giảm khả năng tự làm sạch của các nguồn nước;

- Các số liệu điều tra phần lớn được thực hiện từ trước năm 2006 và không mang tính đồng bộ, do vậy cần được điều tra cập nhật bổ sung và được pháp quy hóa;

- Chưa có những số liệu, đánh giá về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến khả năng khai thác sử dụng nguồn nước ở thượng nguồn và hạ nguồn, nguy cơ hạn hán và mặn hóa cửa sông;

- Chưa có những đánh giá đầy đủ về giá trị của nguồn nước trên mọi lĩnh vực của cuộc sống;

Đối với tài nguyên nước dưới đất: 

- Mức độ nghiên cứu địa chất thủy văn mới chỉ thực hiện ở tỉ lệ 1:200.000 cho toàn vùng, còn ở tỉ lệ lớn hơn chưa đáng kể.

- Khoanh định ranh giới nhiễm mặn của nước dưới đất, nhất là ranh giới nhiễm mặn từ dưới lên còn nhiều hạn chế, do công trình nghiên cứu quá thưa.

- Đánh giá tổng hợp tài nguyên nước (nước mặt, nước dưới đất) để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong vùng chưa được thực hiện.

- Trữ lượng nước dưới đất cho các tầng Holocen và Pleistocen mới chỉ đánh giá sơ bộ theo tài liệu một số lỗ khoan hút nước thí nghiệm; các tầng chứa nước khác do chưa có hoặc ít công trình điều tra nên trữ lượng khai thác tiềm năng đều được tính sơ bộ theo lượng mưa ngấm.

- Tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất hầu như chỉ quan trắc cho các tầng Holocen và Pleistocen, cộng thêm tài liệu điều tra cơ bản còn hạn chế, nên chưa đáp ứng được cho công tác quản lý về tài nguyên nước của các địa phương.

- Một số công trình đã nghiên cứu hầu hết được thực hiện trong những năm cuối của thế kỷ trước, khi công nghệ GIS chưa được ứng dụng rộng rãi trong ngành địa chất. Do vậy hiện nay việc cập nhật, khai thác, sử dụng nguồn tài liệu này để phục vụ cho công tác quy hoạch quản lý tài nguyên nước dưới đất ở một số cơ quan đơn vị còn gặp nhiều khó khăn do phải chuyển đổi hệ tọa độ, tin học hóa chúng.

- Công tác điều tra đánh giá hiện trạng khai thác, chất lượng nước dưới đất ở các thành phố, khu dân cư, khu công nghiệp chưa được tiến hành nên chưa phản ánh được thực tế khai thác sử dụng chúng. Đây là vấn đề khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước để quản lý, bảo vệ tài nguyên nước.

- Nước dưới đất trong các tầng chứa nước lộ trên mặt ở một số vùng bị ô nhiễm do nhiều nguồn gây ô nhiễm khác nhau nhưng chưa được điều tra để có các giải pháp bảo vệ nguồn nước.

Căn cứ vào thực trạng các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước, yêu cầu của công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước đối với phát triển kinh tế - xã hội, năm 2019, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường giao thực hiện nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá, lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50.000 cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” nhằm phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên nước, công tác lập quy hoạch, bảo vệ tài nguyên nước; góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin tài nguyên nước quốc gia.

Dự án được thực hiện trên phạm vi 5 tỉnh, thành phố gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định với tổng diện tích là 27.960 km2.

Những vấn đề cần giải quyết của dự án

- Thu thập, tổng hợp tài liệu tài nguyên nước; điều tra, khảo sát, đo đạc, thi công thực địa về tài nguyên nước mặt, nước dưới đất.

- Thống kê và tổng hợp các tài liệu nghiên cứu nước dưới đất trong các tầng chứa nước ở các công trình nghiên cứu ở các giai đoạn trước trong vùng điều tra; chỉnh biên, biên hội tài liệu theo quy định hiện hành để làm cơ sở cho việc thiết kế, bố trí các công trình nghiên cứu nhằm đạt mục tiêu của Dự án.

- Điều tra, kiểm kê số lượng công trình khai thác, lưu lượng khai thác, hiện trạng khai thác nước dưới đất; hiện trạng chất lượng, hiện trạng ô nhiễm, nhiễm mặn nước dưới đất ở trong vùng. Kết quả điều tra cho giá trị định lượng về số lượng nước dưới đất đang khai thác, chất lượng nước dưới đất ở từng vùng để làm cơ sở cho việc xác lập các vùng bảo vệ nước nước đất.

- Đánh giá đặc điểm phân bố, tiềm năng, trữ lượng, chất lượng tài nguyên nước mặt, nước dưới đất và đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước để phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

- Xác định trữ lượng có thể khai thác của các tầng chứa nước Đệ tứ và trước Đệ Tứ ở trong vùng điều tra. Đối chiếu với hiện trạng khai thác và chất lượng nước dưới đất để chỉ ra những vùng nào cần cấm hoặc hạn chế khai thác để bảo vệ nước dưới đất.

- Tổng hợp, xử lý thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước; thành lập bộ bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50.000 và thuyết minh kèm theo.

Kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt các xã biên giới Việt – Lào thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình đến nay

Tỉnh Quảng Bình có chung đường biên giới với Lào dài gần 202 km, thuộc địa phận 09 xã gồm: Thanh Hóa (huyện Tuyên Hóa); Trọng Hóa, Dân Hóa, Hóa Sơn, Thượng Hóa (huyện Minh Hóa); Thượng Trạch (huyện Bố Trạch); Lâm Thủy, Kim Thủy (huyện Lệ Thủy) và Trường Sơn (huyện Quảng Ninh). Năm 2019, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã thực hiện điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt các xã biên giới Việt – Lào thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình với tổng diện tích là 3314.2 km2 và đã đạt được một số kết quả như sau:

- Về tài nguyên nước mưa: xác định tổng lượng tài nguyên nước mưa nội sinh trên diện tích các xã thuộc vùng dự án là 9.0 tỷ m3, lượng mưa trung bình khoảng 2650mm, lượng mưa bình quân tăng dần từ bắc xuống nam trên phạm vi tỉnh Quảng Bình. Với đặc điểm địa hình chủ yếu miền núi, các sông thường nhỏ và có độ dốc lớn mật độ sông suối tại các xã thuộc huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa, Lệ Thủy khá dày, trong khi đó các xã thuộc huyện Bố Trạch, Thượng Hóa, Hóa Sơn của huyện Minh Hóa có rất ít các sông suối mà chủ yếu là các khe nước nhỏ, hầu hết các suối này đều không có nước vào mùa khô mà chỉ có nước khi có mưa. Vì vậy, tại một số khu vực vẫn xảy ra tình trạng thiếu nước vào mùa khô nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp.

-Về tài nguyên nước mặt: xác định được tổng lượng dòng chảy khoảng 5.4 tỷ m3, mô đun dòng chảy năm dao động trong khoảng 49-54l/s/km2. Tổng lượng tài nguyên nước mặt trung bình nhiều năm tương ứng với tần suất P=25% là 5.87 tỷ m3, P=50% là 5.35 tỷ m3, P=75% là 4.85 tỷ m3, P=95% là 4.21 tỷ m3.

21-2a-1

Lấy mẫu nước thủ công trên sông.

-Về chất lượng nguồn nước mặt: Nhìn chung, chất lượng nước trên các sông suối tại thời gian lấy mẫu có chất lượng còn tốt, với đặc điểm là dòng chảy mùa kiệt được cung cấp từ nước ngầm do đó chất lượng các nguồn nước trên các xã biên giới Việt Nam - Lào có khả năng sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt và tưới tiêu. Tuy nhiên với mục đích dùng cho sinh hoạt như ăn uống thì cần phải có thêm biện pháp xử lý trước khi sử dụng.

-Về vấn đề nổi cộm liên quan đến tài nguyên nước: Theo kết quả điều tra vùng dự án hiện vẫn đang xảy ra các vấn đề chính là thiếu nước, cạn kiệt, một số khu vực còn bị ảnh hưởng bởi lũ lụt do địa hình trũng thấp.

Kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt tại tỉnh Quảng Bình đã đánh giá được chi tiết đặc điểm phân bố, số lượng và chất lượng tài nguyên nước mặt thuộc 09 xã biên giới Việt – Lào. Hiện tại, dự án Điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt các xã biên giới Việt – Lào từ Hà Tĩnh đến Kon Tum (tỷ lệ 1/100.000) vẫn đang thực hiện các hạng mục tiếp theo để hoàn thành mục tiêu đề ra của dự án, tạo tiền đề cho các hoạt động hợp tác phát triển liên quốc gia giữa Việt Nam với Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Xác định vùng bảo hộ vệ sinh công trình lấy nước sinh hoạt và vùng bảo vệ miền cấp nước dưới đất cho các công trình tỉnh Lạng Sơn thuộc Dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao,vùng khan hiếm nước”.

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi thuộc vùng phía Bắc đang trên đà đổi mới và phát triển của cả nước, nền kinh tế tỉnh Lạng Sơn không ngừng lớn mạnh. Nhu cầu nước cho ăn uống sinh hoạt của nhân dân, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, khu tập trung dân cư, các đô thị và nước phục vụ cho sản xuất, quốc phòng an ninh là một nhu cầu bức thiết, tạo đà cho kinh tế - xã hội phát triển cần đặc biệt quan tâm giải quyết.