Sat01222022

Last update06:35:23 AM GMT

Kết quả đạt được khi xây dựng mô hình quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình

There are no translations available.

Dự án đã thu thập toàn bộ mặt cắt ngang lòng sông trong sơ đồ thủy lực Mike 11 trong dự án “Lập quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng-Thái Bình”. Các mặt cắt chủ yếu đo đạc năm 1999-2000 với khoảng 36 sông chính với 1086 mặt cắt (trung bình 2Km/MC). Bổ sung các mặt cắt đo mới từ 2008-2012 trong các dự án gần đây đã được  nhiều đơn vị đo đạc để xây dựng mô hình riêng.

Nội dung Phân nổ nguồn nước và Bảo vệ tài nguyên nước của dự án :" Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Srêpok ".

There are no translations available.

Sông Srêpok nằm ở phía tây dãy Trường Sơn thuộc khu vực Tây Nguyên của Việt Nam, đây là một trong những hệ thống sông lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển KT - XH trong vùng. Cùng với sông Sê Kông và sông Sê San, sông Srêpok là các phụ lưu của sông Mê Công, bắt nguồn từ Tây Nguyên chảy qua lãnh thổ Campuchia và hợp lưu với sông Mê Công tại Stung Treng.

Trên cơ sở các tài liệu hiện trạng kết hợp các thông tin liên quan về quy hoạch kinh tế - xã hội và các ngành trong các địa phương, báo cáo đã xác định được nội dung Phân nổ nguồn nước và Bảo vệ tài nguyên nước theo quy định của Thông tư 42/2015/TT-BTNMT với nội dung chính như sau:

1- Về phân bổ nguồn nước

Đã xác định các giá trị tài nguyên nước:

- Tổng tài nguyên nước toàn LVS Srêpok là 16.607,0 triệu m3, trong đó tổng tài nguyên nước mặt hàng năm là 13.530,7 triệu m3, tổng tài nguyên NDĐ là 3.076,7 triệu m3.

- Lượng nước mặt có thể sử dụng trong quy hoạch là 13.460,8 triệu m3 (P=50%) 11.460,8 triệu m3 (P=75%), 10.363,5 triệu m3 (P=85%); lượng nước dưới đất có thể khai thác ổn định là 2.028,5 triệu m3/năm.

- Lượng nước bảo đảm dòng chảy tối thiểu tại các điểm phân bổ trên sông Ia Drăng là 0.98m3/s (PB1), sông Ia Lôp là 1,51 m3/s (PB2), thượng lưu sông Ea H’Leo là 1,14 m3/s (PB3), hạ lưu sông Ea H’Leo là 3,93 m3/s (PB4), thượng lưu sông Srêpok 27,0 m3/s (PB5), hạ lưu sông Srêpok là 27,0 m3/s (PB6), thượng lưu sông Ea Krông Ana là 14,19 m3/s (PB7), hạ lưu sông Ea Krông Ana là 18,78 m3/s (PB8), thượng lưu sông Ea Krông Nô là 14,3m3/s (PB9) và hạ lưu sông Ea Krông Nô là 20,41 m3/s (PB10).

- Nguồn nước dự phòng để cấp nước sinh hoạt trong trường hợp xảy ra sự cố ô nhiễm nguồn nước tại các kỳ quy hoạch bao gồm: đến năm 2020 là 0,8 tỷ m3, tương ứng dân số được cấp nước là 476.947 người; đến năm 2025 là 1,3 tỷ m3, tương ứng dân số được cấp nước là 711.298 người; đến năm 2030 là 1,33 tỷ triệu m3, tương ứng dân số được cấp nước là 922.093 người; đến năm 2035 là 2,2 tỷ m3, tương ứng dân số được cấp nước là 1.240.719 người.

- Lượng nước bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu trước khi phân bổ cho các kỳ quy hoạch bao gồm: đến năm 2020 là 3,01 tỷ m3, dến năm 2025 là 2,93 triệu m3 đến năm 2030 2,86 triệu m3 và đến năm 2035 là 2,87 triệu m3.

- Lượng nước có thể phân bổ được xác định theo tần suất: 12.591,3 triệu m3 (P=50%), 10.473,0 triệu m3 (P=75%), 9.272,7 triệu m3 (P=85%).

Xây dựng các phương án phân bổ nguồn nước: Phân bổ nguồn nước được xem xét trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sử dụng nước và giảm thiểu lượng khai thác NDĐ. Báo cáo đã tính toán theo 3 phương án dựa theo đặc điểm đên biến nguồn nước tình hình phát triển các công trình tạo nguồn:

- Phương án PA1 (phương án hiện trạng) là phương án được tính theo lượng nước đến ứng với lượng nước đến bình thường.

- Phương án PA2 (phương án phát triển) là phương án có xem xét các công trình tạo nguồn theo quy hoạch thủy lợi các tỉnh trong vùng theo lượng nước đến ứng với các lượngt nước đến bình thường.

- Phương án PA3 (phương án phát triển có xem xác tác động BĐKH) là phương án có xem xét các công trình tạo nguồn theo quy hoạch thủy lợi các tỉnh trong vùng với lượng nước đến có tác động của yếu tố BĐKH

Kết quả đã chọn phương án PA3 là phương án có xét yếu tố tác động của BĐKH và các công trình tạo nguồn theo quy hoạch thủy lợi của các tỉnh trong toàn LVS Srêpok theo các kỳ quy hoạch. Đây là phương án chọn để phân bổ nguồn nước và đã được tính toán trong điều kiện bình thường P=50%) và trong điều kiện khô hạn thiếu nước (P=75%, 85%).

Phân bổ ngưồn nước cho các đối tượng sử dụng theo phương án chọn:

Đối với điều kiện bình thường các nguồn nước được phân bổ như sau:

- Đến năm 2020 lượng khai thác nước mặt là 2.260,93 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 83,3%) và NDĐ là 450,71 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 16,7%).

- Đến năm 2025 lượng khai thác nước mặt là 2.386,60 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 84,0%) và NDĐ là 455,99 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 16,0%).

- Đến năm 2025 lượng khai thác nước mặt là 2.507,46 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 84,5%) và NDĐ là 460,21 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 15,5%).

- Đến năm 2035 lượng khai thác nước mặt là 2.550,61 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 84,6%) và NDĐ là 463,63 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 15,4%).

Đối với điều kiện khô hạn thiếu nước các nguồn nước được phân bồ được xác định theo các tần suất như sau:

- Tần suất 75%: lượng nước mặt trong các kỳ quy hoạch tăng trong khoảng 2.257,53 - 2.555,67 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 83,3 - 84,8%); lượng NDĐ tăng trong khoảng 454,11 - 458,58 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 15,2 - 16,7 %).

- Tần suất 85%: lượng nước mặt trong các kỳ quy hoạch tăng trong khoảng 2.255,41 2.531,41 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 83,2 - 84,0%); lượng NDĐ tăng trong khoảng 456,23 - 460,70 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 15,5 - 16,8%).

Đề xuất Mạng giám sát tài nguyên nước, khai thác sử dụng nguồn nước: trên cơ sở mạng quan trắc hiện có và yêu cầu về giám sát nguồn nước tại các lưu vực sông, báo cáo đã đề xuất 18 vị trí trong vùng LVS Srêpok.

Thông qua kết quả phân bổ nguồn nước đã đề xuất các giải pháp quản lý giải pháp kỹ thuật và giải pháp kinh phí thích hợp được thực hiện. Đối với kinh phí thực hiện quy hoạch báo cáo không xét để kinh phí tạo nguồn do đã được xác định theo quy hoạch thủy lợi tại các tỉnh.

2- Về bảo vệ tài nguyên nước

Bảo vệ nguồn sinh thủy: trên cơ sở tình hình biến động diện tích rừng tại các tỉnh trong LVS Srêpok đã xác định các yêu cầu bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn; xác định danh mục mục rừng, hồ chứa và vùng đất ngập nước cần bảo vệ; đã xác định được các khu vực, tầng chứa nước cần bảo vệ miền cấp NDĐ làm cơ sở cho việc đề xuất vị trí, phạm vi miền cấp NDĐ cần bảo vệ trong vùng quy hoạch.

Phòng ngừa suy thoái và cạn kiệt nguồn NDĐ: theo phân tích, đánh giá mức độ hạ thấp mực nước các tầng chứa nước trong toàn LVS Srêpok theo tài liệu quan trắc nhiều năm 2003 - 2017 cho thấy mức độ cạn kiệt do khai thác không đáng kể, chủ yếu do đặc điểm dao động tự nhiên theo mùa với biên độ nhiều nơi rất lớn 8,0 - 65,4m (LK163T - X. Ia Din, H. Đức Cơ) nên sẽ gây ra tình trạng cạn kiệt trong các tháng mùa khô nhưng vào mùa mưa đã khôi phục lại. Mặt khác, do đặc điểm địa hình nên nhiều nơi mực nước bình thường rất sâu >50m nên những khu vực này không thể xem là cạn kiệt nguồn nước. Vấn đề phòng ngừa đáng quan tâm nhất trong vùng là hiện tượng chảy thông tầng khi lỗ khoan vượt qua ranh giới phân bố tầng chứa nước Bqp và Bn-qp hoặc j. Đều này sẽ dẫn đến hạ thấp mực nước trên diện rộng khi tầng dưới có mực nước tĩnh nằm rất sâu như đã xảy ra ở một số nơi trước đây. Như vậy, vấn đề phòng ngừa suy thoái và cạn kiệt nguồn nước trong vùng sẽ được xem xét là bảo vệ ngưỡng khai thác theo lượng bổ cập hàng năm cho NDĐ tại từng toàn LVS Srêpok là 5.001.818m3/ngày.

Phục hồi nguồn NDĐ suy thoái cạn kiệt: trong vùng chưa xác định được các vùng suy thoái cạn kiệt nguồn NDĐ nên không có đề xuất phục hồi cạn kiệt. Phục hồi cạn kiệt nguồn NDĐ chỉ cần xem xét đến các công trình khai thác NDĐ làm xảy ra hiện tượng thông tầng làm mất nước tầng nằm trên. Giải pháp cho trường hợp này là trám lấp lỗ khoan đến chiều sâu thích hợp.

Bảo vệ chất lượng nước mặt: đã xác định được chất lượng nước của các sông chính (đoạn sông) trong từng Vùng quy hoạch và khoanh định được các khu vực không đạt mục đích sử dụng nước. Kết hợp chức năng nguồn nước, nguyên nhân gây ô nhiễm (tự nhiên và nhân tạo) và tải lượng chất ô nhiễm từ các nguồn thải, báo cáo đã xác định ngưỡng giới hạn về lượng, nồng độ chất gây ô nhiễm tại nguồn thải và nguồn tiếp nhận nước thải nhằm đáp ứng các mục đích sử dụng nước trong kỳ quy hoạch và đề xuất các yêu cầu phòng, chống khắc phục ô nhiễm nguồn nước trong kỳ quy hoạch.

Bảo vệ chất lượng các tầng chứa nước: trên cơ sở nghiên cứu xu thế diễn biến chất lượng NDĐ và chất lượng NDĐ theo mục đích sử dụng, báo cáo đã xác định các chỉ tiêu chất lượng nước không đạt yêu cầu cho các mục đích sử dụng của các tầng chứa nước là hàm lượng Nitro và độ pH trong các mẫu nước. Hàm lượng các thành phần hóa học khác và kim loại nặng không phổ biến, chỉ phát hiện cục bộ tại một số nơi. Báo cáo đã phân tích đánh giá nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo gây ô nhiễm nguồn NDĐ và khoanh định các phạm vi ô nhiễm và điểm ô nhiễm. Trên cơ sở đó, báo cáo đã đề xuất biện pháp bảo vệ chất lượng nước các tầng chứa nước và đề xuất danh mục các nguồn nước cần bảo tồn.

Đề xuất mạng giám sát chất lượng nước: trên cơ sở mạng quan trắc hiện có và yêu cầu về giám sát chất lượng nguồn nước tại các TLV, báo cáo đã đề xuất 29 vị trí quan trắc toàn vùng LVS Srêpok.

Các nội dung được thực hiện theo trình tự từ xác định nhu cầu của các ngành dùng nước trên từng tiểu vùng, đánh giá tiềm năng nguồn nước và khả năng đáp ứng cụ thể của từng nguồn nước; đánh giá hiệu quả sử dụng nước; quan tâm đúng mức đến an ninh lương thực, an sinh xã hội - xóa đói giảm nghèo cũng như những tác động không mong muốn do quá trình sử dụng nước mang lại (như ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt,)... để xác định các mức ưu tiên khác nhau trong phân bổ và được tính toán cho các kịch bản nguồn nước khác nhau.

Quy hoạch tài nguyên nước LVS, báo cáo xác định quan điểm nước mặt và NDĐ là các thành phần của nguồn nước trên lưu vực và cùng tham gia trong quá trình tính toán cân bằng. Áp dụng phương pháp thử dần dựa trên cơ sở khả năng đáp ứng của nguồn nước mặt kết hợp khai thác sử dụng nguồn NDĐ trong từng vùng quy hoạch. NDĐ có chất lượng tốt là tài nguyên thiên nhiên quý, trữ lượng có giới hạn cần giữ gìn và sử dụng hợp lý cho các mục đích như sinh hoạt hoặc nhu cầu sử dụng nước chất lượng cao. Tuy nhiên, NDĐ cũng luôn tuần hoàn và tái tạo nên cần có biện pháp khai thác hợp lý, tránh hạn chế tới mức lãng phí và cạn kiệt. Hy vọng rằng các kết quả tính toán về ngưỡng khai thác tài nguyên nước trong quy hoạch này sẽ là công cụ hữu ích giúp những người làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở địa phương có cơ sở kỹ thuật trong quá trình xem xét cấp phép về tài nguyên nước ở địa phương cũng như giải quyết các vấn đề tranh chấp lợi ích có thể phát sinh trong khai thác sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh cũng như trên lưu vực sông.

Các đặc điểm của tầng chứa nước nghiên cứu ở khu vực vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc bộ đến nay

There are no translations available.

Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ phần thuộc lãnh thổ Việt Nam gồm hai tỉnh, thành phố có tuyến vành đai kinh tế đi qua là Quảng Ninh và Hải Phòng, có diện tích tự nhiên 7.418,8 km2, dân số gần 2,9 triệu người, chiếm 2,24% diện tích tự nhiên và 3,44% dân số cả nước.

Hiện trạng sụt lún đất nền tại thành phố Hà Nội

There are no translations available.

Quá trình khai thác nước ngầm tại Hà Nội bắt đầu từ năm 1909. Nhưng mãi đến năm 1988, tức là sau 80 năm khai thác nước trên cơ sở các tài liệu hiện có, đã xây dựng 32 mốc quan trắc lún tại Hà Nội và các điểm điển hình, đồng thời tiến hành quan trắc lún mặt đất. Khi đó, người ta tiến hành đo đạc 1 năm 1 lần vào mùa khô các năm 1988, 1989, 1990, 1991. Đến năm 1996 số mốc quan trắc lún là 45 điểm và cho đến nay các mốc đo lún này không còn hoạt động.

Quy Hoạch Tài Nguyên Nước Sông Bằng Giang - Kỳ Cùng Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội Các Tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn Nói Riêng Và Vùng Đông Bắc Bộ Nói Chung

There are no translations available.

Bằng Giang - Kỳ Cùng là một trong 10 lưu vực sông lớn của nước ta và là lưu vực sông có nguồn nước liên quốc gia giữa Việt Nam - Trung Quốc với diện tích lưu vực 10.847 km2 thuộc 3 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Kạn.

Cần phải điều tra, đánh giá việc khai thác, sử dụng nước dưới đất, tác động đến sụt lún bề mặt đất khu vực thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng bằng sông Cửu Long

There are no translations available.

Trong thời gian qua dư luận xã hội đề cập đến vấn đề lún mặt đất do việc khai thác nước ngầm ở các đô thị lớn là thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội và vùng đồng bằng sông Cửu Long, đây là vấn đề lớn đang được toàn xã hội quan tâm và Chính phủ đã giao các Bộ, ngành, địa phương liên quan báo cáo về tình hình sụt lún nền đất tại các đô thị.

Các quy định có liên quan đến cảnh báo dự báo tài nguyên nước ở nước ta.

There are no translations available.

Ở nước ta việc nghiên cứu và dự báo tài nguyên nước được quan tâm khá sớm vào năm 1960-1975, tuy nhiên thời điểm này có rất ít các quy định, văn bản hỗ trợ cho công tác thông báo, cảnh báo và dự báo tài nguyên nước, mới chỉ nghiên cứu ứng dụng với các phương pháp cho bài toán dự báo, chưa cụ thể hóa thành các quy trình, quy định rõ ràng.

Kết quả thực hiện các dạng công tác của đề án“ Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại vùng núi cao, vùng khan hiếm nước tỉnh Kon Tum

There are no translations available.

Kon Tum là tỉnh đang trên đà phát triển so với các tỉnh khác của khu vực Tây Nguyên, nơi có địa hình phân cắt mạnh, mùa mưa 6 tháng và mùa khô 6 tháng. Đời sống của người dân còn nhiều khó khăn. Trên đà đổi mới và phát triển của cả nước, nền kinh tế tỉnh Kon Tum đang lớn mạnh, nhu cầu nước cho ăn uống sinh hoạt của nhân dân, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới tiếp giáp Lào và Campuchia, khu tập trung dân cư, các đô thị và nhu cầu dùng nước phục vụ cho sản xuất, quốc phòng an ninh là một nhu cầu bức thiết, tạo đà cho kinh tế - xã hội phát triển cần đặc biệt quan tâm giải quyết.