Thu01202022

Last update06:35:23 AM GMT

Project: “Investigation and assessment of groundwater in Neogene aquifer of Ha noi city”.

Objectives:

- Definition of geological and hydro-geological features of Neogene Aquifer;

- Assessment on the amount of water, zoning potential areas of the aquifer in the studied area;

The Project has been carried out by the Division for Water Resources Planning and Investigation for the North of Vietnam since 2007. 6/13 wells have been constructed so far. Details are as follows: LK1-N with the depth of 155m, at Đông Ngạc Commune, Từ Liêm District, Hà Nội, discharge of 16,44(l/s); LK3-N with the depth of 40m, at Long Biên district, Hà Nội, discharge of 16,40(l/s); LK6-N with the depth of 230m, at Ngũ Hiệp Commune, Thanh Trì district, Hà Nội, discharge of 5,50(l/s); LK8-N with the depth of 220m, at Lệ Chi Commune, Bắc Ninh, discharge of 20,06(l/s). The water quality is good. It is a potential aquifer that can supply water for industrial purposes in the studied area;

Regarding the well LK2N-TH with the depth of 300m, at Tả Thanh Oai, Hà Nội, salty water was found;

The well LK4-N, at Việt Hưng Urban Area, Long Biên District, Hà Nội is under construction.

Đề án: “Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng thành phố Hà Nội”

There are no translations available.

Mục tiêu:

- Xác định đặc điểm địa chất, địa chất thuỷ văn của tầng chứa nước Neogen;

- Đánh giá mức độ chứa nước, khoanh định diện tích có triển vọng của tầng chứa nước trong phạm vị nghiên cứu;

Project: “Investigation and assessment of groundwater in the Western area of Nghe An”.

Objectives:

- Investigation on the hydro-geological conditions, water resources

- Definition of potential area supplying drinking water for Quy Hop, Thau Hoa and Con Cuong Township

The Project has been executed by the Division for Water Resources Planning and Investigation for the North of Vietnam since 2006 including the following activities: Fieldwork; geophysical measurement, drilling, pumping test, pumping water from dug wells.

Number of drilled wells: 22/23 (in quaternary sediments with the depth of 20m to 40m; in karsts: 40m to 100m) discharge from 0,71 to 10,0 (l/s), water quality meets the current standards, details are as follows: Quy Hop Area: 8/8 boreholes with the actual pumping rate of 28,38(l/s) equal to 2.448 (m3/d) able to supply water for 4.080 people (60l/person/ d); Thai Hoa Area 7/7 boreholes with the actual pumping rate of 14,97(l/s) equal to 1.293 (m3/d), capable to provide water for 2.155 people; Con Cuong Area 7/8 boreholes with the actual pumping rate of 29,6 (l/s) equal to 2.557 (m3/d) able to supply water for 4.262 people.

Đề án: “Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Tây Nghệ An”

There are no translations available.

Mục tiêu:

- Điều tra điều kiện địa chất thuỷ văn, nguồn nước dưới đất

- Xác định khu vực triển vọng phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt vùng thị trấn Quỳ Hợp, Thái Hoà và thị trấn Con Cuông

Project on the investigation of groundwater for Hà Giang Province

hagiangHà Giang is the border area of the North Vietnam, where located high mountains and a plenty of rivers and springs.

The terrain of Hà Giang province is relatively complex, dividing into 3 areas: the high mountainous area bordering with the northern tropics is quite steep; valleys, rivers and springs are separated; climate was featured with temperate, dividing into 2 seasons: rainy and dry. The high mountainous area of the West belongs to the massif of the Chay river’s upstream gathers with steep slopes, high passes, narrow valleys and stream beds; the climate of this area is divided into 2 seasons: rainy and dry. The low area of the Province includes hills, mountains, Lo river valleys and the town of Hà Giang.

Hà Giang was endowed with a number of high mountains with the highest peaks of Tây Côn Lĩnh (2419 m) and Kiều Liêu Ti (2402m). Regarding the flora, Hà Giang possesses many primeval forests with precious woods and 1000 kinds of rare medicinal plants. Animals are tigers, peacock, pangolins, … and a hundreds of other birds and animals.

Hà Giang obtains poetic grandeur Đồng Văn stone plateau, Khâu Vai love market compelling domestic and foreign tourists.

Dự án Điều tra Nước ngầm tỉnh Hà Giang

There are no translations available.

hagiang

Hà Giang, mảnh đất địa đầu cực Bắc của Việt Nam, nơi có những ngọn núi cao lưng trời và nhiều sông suối.

Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, có thể chia làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều. Khí hậu mang nhiều sắc thái ôn đới, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp. Khí hậu vùng này chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Vùng thấp trong tỉnh gồm vùng đồi núi, thung lũng sông Lô và thị xã Hà Giang.

Hà Giang có nhiều núi non hùng vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2419 m) và ngọn Kiều Liêu Ti (2402m) là cao nhất. Về thực-vật, Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh, nhiều gỗ quý, và có tới 1000 loại cây dược liệu quý hiếm. Động vật thì có hổ, công, trĩ, tê tê, ... và hàng trăm loại chim thú khác.

Hà Giang có cao nguyên Đồng Văn nên thơ hùng vĩ, có chợ tình Khâu Vai hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Project on planning and investigation of water resources for the Central Region

mien_trungCentral Region of Vietnam or Central part (other former names are Trung phần (Vietnam Democratic Republic), Trung Kỳ (French colonized), and An Nam (by French) is one of the three main regions of Vietnam (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) and located in the middle. Tây Nguyên is usually included in the Central Region. It is sometimes found a combined name of Miền Trung-Tây Nguyên. The name Trung Bộ has been used since Bao Dai King established regional administrative agency higher than provincial level in 1945, replacing the name Trung Kỳ, which lingered to the time of French colony. This name was used in official documents of Vietnam Democratic Republic. This name is also used by many people nowadays.

In addition, another name was known as Trung phần, which originated in 1049 when Head of Vietnam State Bảo Đại formulated administrative office with the same function of ministerial level in 1945. Then, the Vietnam Republic Government also used this name until its collapse in 1975. Decree No. 143-A/TTP by the President of Vietnam Republic dated on 23/10/1956 regulated to call Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt with the name Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần. Tây Nguyên was named Cao nguyên Trung phần by the Vietnam Republic (former name was Cao nguyên Miền Nam). According to the Decree No. 147-A/NV by the President of Vietnam Republic dated on 24/10/1956, Trung Phần included Cao nguyên Trung phần and Trung nguyên Trung phần.

Dự án quy hoạch và điều tra tài nguyên nước miền Trung

There are no translations available.

mien_trung

Miền Trung Việt Nam hay Trung Bộ (trước kia còn được gọi bằng các tên khác nhau trong lịch sử là Trung phần (thời Việt Nam Cộng hòa), Trung Kỳ (thời Pháp-thuộc), và An Nam (theo người Pháp) là một trong ba vùng chính của Việt Nam (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) và là vùng ở giữa. Tây Nguyên thường được gộp vào Trung Bộ. Đôi khi có tài liệu gọi vùng này bằng tên ghép Miền Trung-Tây Nguyên. Tên gọi Trung Bộ được dùng từ sau khi vua Bảo Đại thành lập cơ quan hành chính cấp vùng cao hơn tỉnh vào năm 1945, thay cho tên gọi Trung Kỳ gợi nhớ thời kỳ bị Pháp đô hộ. Tên gọi này được các tài liệu chính thức của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng. Tên gọi này cũng được nhiều người sử dụng cho đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một danh xưng khác là Trung phần, phát xuất từ việc vào năm 1949, Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam Bảo Đại cho thành lập cơ quan hành chính cấp Phần, với chức năng tương đương cấp Bộ năm 1945. Về sau, chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng thường dùng danh xưng này cho đến tận khi sụp đổ vào năm 1975. Sắc lệnh số 143-A/TTP của Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 23/10/1956 đã quy định gọi Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt tương ứng là Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần. Tây Nguyên được Việt Nam Cộng hòa gọi là Cao nguyên Trung phần (trước đó gọi là Cao nguyên Miền Nam). Theo Sắc lệnh số 147-A/NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 24/10/1956 thì Trung Phần gồm Cao nguyên Trung phần và Trung nguyên Trung phần.