Thu10212021

Last update06:36:07 AM GMT

Xác định vùng bảo hộ vệ sinh công trình lấy nước sinh hoạt và vùng bảo vệ miền cấp nước dưới đất cho các công trình tỉnh Lạng Sơn thuộc Dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao,vùng khan hiếm nước”.

There are no translations available.

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi thuộc vùng phía Bắc đang trên đà đổi mới và phát triển của cả nước, nền kinh tế tỉnh Lạng Sơn không ngừng lớn mạnh. Nhu cầu nước cho ăn uống sinh hoạt của nhân dân, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, khu tập trung dân cư, các đô thị và nước phục vụ cho sản xuất, quốc phòng an ninh là một nhu cầu bức thiết, tạo đà cho kinh tế - xã hội phát triển cần đặc biệt quan tâm giải quyết.

Khoanh định khu vực triển vọng chứa nước tỉnh Lạng Sơn thuộc dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao,vùng khan hiếm nước”.

There are no translations available.

Lạng sơn là một tỉnh miền núi biên giới, thuộc khu vực Đông Bắc của Tổ quốc Việt Nam, có đường biên giới với Trung Quốc dài 253km; cách thủ đô Hà Nội 154 km đường bộ và 165 km đường sắt. Phía bắc Lạng Sơn giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây, tây nam giáp tỉnh, và Thái Nguyên. Lạng Sơn nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái Nguyên, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc Giang, Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và 7 cặp chợ biên giới. Mặt khác, có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, khoa học – công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, với Trung Quốc và qua đó sang các nước vùng Trung Á, châu Âu và các nước khác...

Khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nước mặt và nước dưới đất trên đảo Hòn Chuối

There are no translations available.

Đảo Hòn Chuối thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, cách đất liền 32km về phía Tây, diện tích đảo khoảng 7 km vuông, điểm cao nhất so với mực nước biển gần 170 m. Hòn Chuối là một trong những đảo tiền tiêu quan trọng phía Tây Nam của Tổ quốc. Vì vậy đảo Hòn Chuối là một trong các đảo được lựa chọn thực hiện trong Dự án "Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam" được phê duyệt theo Quyết định số 129/QĐ-QHTNN ngày 25 tháng 7 năm 2011 của Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước. Nhiệm vụ được giao cho Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền nam thực hiện với mục tiêu đảm bảo cấp nước phục vụ dân sinh - kinh tế, an ninh quốc phòng trên đảo Hòn Chuối - đảm bảo quan trọng, có tầm chiến lược thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Hiện trạng và diễn biến phễu hạ thấp mực nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

There are no translations available.

Phễu tầng chứa nước qp2-3:

Tầng chứa nước qp2-3 có nguồn bổ cập chủ yếu từ nước mưa ngấm xuống, từ các khu vực địa hình cao phía bắc chảy đến, bổ cập từ thấm xuyên, các tầng chứa nước nằm trên (qp3) và nằm dưới (qp1) liền kề qua các cửa sổ địa chất thủy văn và một phần được bổ cập từ những dòng chảy lớn có đáy xâm thực sâu. Miền thoát chủ yếu là chảy về phía nam và tây nam, một phần chảy ra các sông suối lớn và một lượng đáng kể được khai thác sử dụng cho các hoạt động con người. Các cửa sổ địa chất thủy văn giữa tầng chứa nước qp2-3và các tầng chứa nước qp3 và qp1 được hình thành do sự gián đoạn của các thành tạo địa chất rất nghèo nước tuổi Q12-3 và Q11, các cửa sổ địa chất thủy văn này phân bố rải rác trong vùng nghiên cứu.

Phễu hạ thấp mực nước tầng qp2-3 hình thành từ năm 2000 (cốt cao mực nước từ -10m đến -12m) ở khu vực thành phố Bạc Liêu, Thị xã Ngã Bảy - Hậu Giang, huyện Châu Thành - Trà Vinh. Từ năm 2000 đến nay có xu hướng tăng chậm. Trong phễu hạ thấp phát triển nhiều tâm phễu nhỏ có mực nước sâu tại các vị trí khai thác thuộc các bãi giếng lớn.

Tầng chứa nước Pleistocen giữa trên có tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2013-2018 là 0,04m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,61m/năm tại công trình Q597030M1 (phường 7, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu). Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 10 năm 2008-2018 là 0,20m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,48m/năm tại công trình Q597030M1. Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 15 năm 2003-2018 là 0,20m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,44m/năm tại công trình Q40403T (xã Tập Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh).

Phễu hạ thấp mực nước tầng qp1:

Tầng Pleistocen dưới nằm khá sâu, ngay dưới tầng qp2-3, hầu như không bị dòng mặt xâm thực vào nên mực nước dao động theo mùa với biên độ nhỏ hơn, một số nơi có dao động thủy triều do ảnh hưởng áp lực triều của biển Đông. Mực nước cao nhất trong năm thường là vào cuối mùa mưa (tháng 10), mực nước thấp nhất là vào cuối mùa khô (thường là tháng 5). Hầu hết xuất hiện xu hướng giảm mực nước do ảnh hưởng của các hoạt động khai thác nước dưới đất.

Phễu hạ thấp mực nước tầng qp1 hình thành từ năm 2005 (cốt cao mực nước từ -9m đến -7m) ở khu vực trung tâm huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Từ năm 2005, phễu hạ thấp mực nước tầng qp1 có xu hướng phát triển cả về diện phân bố và độ sâu ở các khu vực trung tâm thành phố. Từ năm 2010 đến nay có xu hướng tăng chậm. Trong phễu hạ thấp phát triển một số tâm phễu nhỏ có mực nước sâu tại các vị trí khai thác thuộc các bãi giếng lớn.

Tầng Pleistocen dưới là tầng chứa nước khai thác chính của vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2013-2018 là 0,15m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,59m/năm tại công trình Q326030M1 (thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An). Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 10 năm 2008-2018 là 0,20m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,33m/năm tại công trình Q219030 (thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 15 năm 2003-2018 là 0,19m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,29m/năm tại công trình Q401030 (thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang).

Phễu hạ thấp mực nước tầng Pliocen giữa n22:

Tầng chứa nước Pliocen giữa n22 nằm khá sâu, dưới tầng qp1, hầu như không bị dòng mặt xâm thực nên mực nước dao động theo mùa với biên độ nhỏ, một số nơi có dao động thủy triều do ảnh hưởng áp lực triều của biển Đông. Mực nước cao nhất trong năm thường là vào cuối mùa mưa (tháng 10), mực nước thấp nhất là vào cuối mùa khô (thường là tháng 5). Hầu hết xuất hiện xu hướng giảm mực nước do ảnh hưởng của các hoạt động khai thác nước dưới đất.

Phễu hạ thấp mực nước tầng n22 hình thành từ năm 2005 (cốt cao mực nước từ -5m đến -7m) ở khu vực trung tâm huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Từ năm 2007, phễu hạ thấp mực nước tầng n22 có xu hướng phát triển mạnh cả về diện phân bố và độ sâu ở các khu vực thị xã Cai Lậy, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Trong phễu hạ thấp phát triển nhiều tâm phễu nhỏ có mực nước sâu tại các vị trí khai thác thuộc các bãi giếng lớn.

Đây là một trong những tầng chứa nước khai thác chính của vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2013-2018 là 0,28m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 1,05m/năm tại công trình Q604050 (xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An). Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 10 năm 2008-2018 là 0,25m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,78m/năm tại công trình Q02204Z (thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An). Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 15 năm 2003-2018 là 0,32m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,70m/năm tại công trình Q02204Z (thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An).

Tuy nhiên, một số khu vực có tốc độ hạ thấp mực nước dưới đất có xu hướng giảm so với giai đoạn 5 năm trước (2012-2017) như: Q409040M1 (Phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng); Q214030M1 (xã Tân Long Hội, huyện Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long); Q02704T (thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An).

Phễu hạ thấp mực nước tầng Pliocen dưới (n12)

Tầng chứa nước n21 phân bố rộng rãi trên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, tầng chứa nước n21 chỉ bắt gặp dưới sâu. Thành phần đất đá có nguồn gốc sông, sông-biển và biển, được cấu tạo bởi cát sạn sỏi, cát pha bột sét, và bột gắn kết. Mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu, phổ biến trung bình.

Tổng diện tích phân bố của tầng chứa nước Pliocen dưới là 34.470km2, trong đó tổng diện tích nước nhạt là 20.008km2 và tổng diện tích nước mặn là 14.462km.

Nước dưới đất có xu hướng giảm mực nước là phổ biến. Tầng chứa nước n21 có chất lượng tốt và hiện đã được khai thác để phục vụ ăn uống, sinh hoạt ở một số tỉnh như: Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Cà Mau. Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước có thể qua thấm xuyên từ tầng nằm kề.

Phễu hạ thấp mực nước tầng n21 hình thành từ năm 2007 (cốt cao mực nước từ -5m đến -6m) ở khu vực trung tâm huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Từ năm 2010, phễu hạ thấp mực nước tầng n21 có xu hướng phát triển mạnh cả về diện phân bố và độ sâu ở các khu vực huyện Năm Căn - Cà Mau, thành phố Bạc Liêu, thành phố Sóc Trăng, huyện Lai Vung - Đồng Tháp, huyện Châu Thành - Tiền Giang. Trong phễu hạ thấp phát triển nhiều tâm phễu nhỏ có mực nước sâu tại các vị trí khai thác thuộc các bãi giếng lớn.

Tầng chứa nước Pliocen dưới (n21) là một trong những tầng chứa nước khai thác chính của vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2013-2018 là 0,44m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 1,06m/năm tại công trình Q604060 (xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An). Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 10 năm 2008-2018 là 0,39m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 1,00m/năm tại công trình Q022050 (thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An). Tốc độ hạ thấp mực nước trung bình giai đoạn 15 năm 2003-2018 là 0,40m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,84m/năm tại công trình Q022050 (thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An).

Tuy nhiên, một số khu vực có tốc độ hạ thấp mực nước dưới đất có xu hướng giảm so với giai đoạn 5 năm trước (2013-2018) như: Q405050M1 (xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh); Q59704TM1 (Phường 7, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu); Q02704Z (thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An).

Nhận định về nguyên nhân gây hạ thấp mực nước và khả năng gây lún nền đất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

There are no translations available.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cực nam chiếm 13% diện tích và hơn 19% dân số cả nước. Phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam giáp Biển Đông.Về phía tây, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bởi sông Châu Đốc và kênh Vĩnh Tế. Giới hạn đầu nguồn bởi các dòng kênh nối ngang tại 2 huyện thị đầu nguồn Tân Châu và An Phú của tỉnh An Giang. Về phía đông và đông bắc, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bởi hàng loạt các dòng sông kênh rạch liên thông với nhau, chảy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, (giới hạn vùng đất trũng khác ngập nước theo mùa là vùng Đồng Tháp Mười). Giới hạn phía đông bắc và phía đông của Đồng bằng sông Cửu Long là các dòng sông kênh rạch.

Xác định lượng nước đảm bảo nhu cầu thiết yếu trong phương trình cân bằng nước

There are no translations available.

Lượng nước đảm bảo nhu cầu thiết yếu là một trong những nhu cầu cơ bản của cuộc sống con người. Không có nước, con người không thể sống qua vài ngày. Việc thiếu hụt tiếp cận với nguồn cung cấp nước có thể dẫn tới sự lan tràn dịch bệnh. Bệnh dịch tiêu chảy do thiếu nguồn cung cấp nước, thiếu vệ sinh gây ra cái chết của 1,73 triệu người mỗi năm. Điều này làm cho bệnh dịch này nguy hiểm thứ 6 ở trên toàn cầu (WHO,2000). Các bệnh dịch khác liên quan đến nguồn nước kém chất lượng, thiếu vệ sinh như bệnh đau mắt hột, bệnh sán máng, giun đũa, sốt rét.

Thực trạng chưa được quan tâm và phát triển đúng mức Công tác dự báo cảnh báo tài nguyên nước hiện nay đã được biết đến là công tác rất quan trọng, góp phần ổn định, phát triển kinh tế xã hội cho các lưu vực sông nói chung, và giải quyết vấn đề khai thá

There are no translations available.

Tại Việt Nam công tác nghiên cứu, quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước mới bắt đầu được thực hiện trong những năm gần đây bằng các quy hoạch chuyên ngành liên quan như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch phòng chống lũ, quy hoạch thủy điện, quy hoạch cấp nước.... Đối với công tác phân bổ tài nguyên nước trong Quy hoạch tài nguyên nước nhìn chung đã đề xuất được một số nguyên tắc ưu tiên và thứ tự ưu tiên cấp nước cho các ngành dùng nước chủ yếu là: Sinh hoạt, Công nghiệp, Nông nghiệp và Môi trường và đưa ra tỷ lệ cấp nước cho các ngành dùng nước. Tuy nhiên các quy hoạch đó đều chưa có cơ sở hay tiêu chí cụ thể xác định lượng nước có thể sử dụng trước khi đem phân bổ cho các ngành dùng nước.

Kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước trên đảo Thanh Lân

There are no translations available.

Thanh Lân là đảo thuộc huyện Cô Tô với diện tích khoảng 27km2, là hòn đảo lớn nhất nằm về phía đông bắc, cách trung tâm huyện đảo Cô Tô 4km đường biển. Xã đảo Thanh Lân có vị trí quan trọng trong chiến lược quốc phòng, an ninh biển đảo.