Sat08082020

Last update04:32:39 AM GMT

Tin tức Trung tâm

Trung tâm QH&ĐTTNNQG bàn giao điểm cấp nước miễn phí tại 2 tỉnh Tiền Giang và Kiên Giang, giải quyết nhu cầu cấp bách về nước ngọt cho các vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán, xâm nhập mặn

There are no translations available.

Ngày 16/4/2020, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam, thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (Bộ TN&MT) đã bàn giao cho 02 tỉnh Kiên Giang và Tiền Giang 02 công trình cấp nước sinh hoạt miễn phí, phục vụ nhu cầu cấp bách của người dân về sử dụng nguồn nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn QCVN 01:2009/BYT theo quy định của Bộ Y tế.

Bàn giao điểm cấp nước số 8 tại xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

There are no translations available.

Chiều 16/4, xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam, thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia  đã bàn giao cho tỉnh Kiên Giang công trình cấp nước sinh hoạt với chất lượng nguồn nước đạt tiêu chuẩn nước ăn uống, sinh hoạt theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.

Bàn giao trạm cấp nước ngọt miễn phí, người dân Kiên Giang bớt nỗi lo hạn, mặn

There are no translations available.

Sáng 16/4, tại xã Nam Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam, thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia đã bàn giao cho tỉnh Kiên Giang công trình cấp nước sinh hoạt miễn phí với chất lượng nguồn nước đạt tiêu chuẩn nước ăn uống, sinh hoạt theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.

Giải "cơn khát" cho người dân vùng hạn tại Gia Lai

There are no translations available.

Chiều 15/4, tại xã Đăk Trôi, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung, thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia đã tổ chức lễ bàn giao cho tỉnh Gia Lai công trình cấp nước sinh hoạt với chất lượng nguồn nước đạt tiêu chuẩn nước ăn uống, sinh hoạt theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.

Quy hoạch điều tra cơ bản tài nguyên nước gắn với Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia và Quy hoạch lưu vực sông liên tỉnh

There are no translations available.

Ngày 10/4, Thứ trưởng Lê Công Thành đã chủ trì cuộc họp trực tuyến nghe các đơn vị báo cáo về tình hình triển khai xây dựng Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050. Tham dự cuộc họp tại các đầu cầu có đại diện Lãnh đạo Tổng Cục Khí tượng thủy văn, Tổng Cục môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, Viện Khoa học tài nguyên nước và một số đơn vị liên quan trực thuộc Bộ.

Dự án “Điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất từ Đà Nẵng đến Bình Thuận”

There are no translations available.

Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung vừa hoàn thiện Dự án “Điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ và Neogen từ Đà Nẵng đến Bình Thuận”. Dự án được nhóm tác giả thuộc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung, do CN. Nguyễn Trung Phát chủ trì triển khai thực hiện từ tháng 1/2010.

duan_BinhThuan1Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tống Ngọc Thanh chủ trì buổi báo cáo
Giải quyết bài toán thiếu nước do phát triển kinh tế - xã hội
Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung cho biết: Vùng đồng bằng ven biển các tỉnh, thành phố khu vực duyên hải Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận là nơi tập trung các thành phố tỉnh lỵ, thị xã, thị trấn,  khu và cụm công nghiệp. Đây cũng là nơi có các hoạt động KT-XH phát triển mạnh mẽ. Chính những đặc điểm trên đã và đang gia tăng nhu cầu khai thác sử dụng nước dưới đất, lượng nước được khai thác ngày càng tăng, kéo theo việc xả nước thải vào nguồn nước cũng tăng theo là những tiềm ẩn của nguy cơ gây cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn nước.
duan_BinhThuan-2Triển khai thi công Dự án “Điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất từ Đà Nẵng đến Bình Thuận”
Bên cạnh nguồn nước mặt trên các sông suối và trong hồ chứa, nước dưới đất trong các tầng chứa nước trong trầm tích Đệ tứ và Neogen là đối tượng để khai thác phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội của vùng. Từ dữ liệu của hệ thống quan trắc tài nguyên nước thuộc mạng quan trắc quốc gia và địa phương trong khu vực cho thấy, nước dưới đất trong tầng chứa nước này đang có dấu hiệu suy thoái, cạn kiệt.
Để cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo vệ, quản lý và sử dụng nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ và Neogen, phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, Dự án “Điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ và Neogen từ Đà Nẵng đến Bình Thuận” do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung thành lập đã được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia theo ủy quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số 09/QĐ-QHTNN ngày 21/01/2010. Trong thời gian thực hiện, Dự án được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt điều chỉnh dự toán kinh phí và thời gian thực hiện tại quyết định số 2700/QĐ-BTNMT ngày 27/11/2014 và quyết định số 1724/QĐ-BTNMT ngày 29/7/2016. Theo đó, thời gian thực hiện Dự án bắt đầu từ năm 2011, lập báo cáo tổng kết và nộp lưu trữ vào năm 2019.
Mục tiêu của Dự án là xác định vùng hạn chế và đề xuất các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ và Neogen từ Đà Nẵng đến Bình Thuận.
Để đạt mục tiêu trên, nhiệm vụ của Dự án là điều tra, đánh giá để xác định các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo các tiêu chí và căn cứ được quy định trong Nghị định số 167/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc hạn chế khai thác nước dưới đất; lập được bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trong phạm vi Dự án;
duan_BinhThuan2Hiện trạng các Lỗ khoan trong quá trình triển khai Dự án
Ngoài ra, Dự án còn điều tra và thu thập thông tin về các nguồn thải, hiện trạng cấp nước tập trung ở các khu đô thị, khu dân cư để phục vụ việc khoanh vùng hạn chế khai thác NDĐ.
Xác định được cấu trúc địa chất thủy văn và tiềm năng TNN trong vùng
Dự án đã hoàn thành toàn bộ nội dung, khối lượng thực hiện các công việc đã được phê duyệt và đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra. Các dạng công tác điều tra, đánh giá hiện trạng, ô nhiễm, nhiễm mặn nước dưới đất, đồng thời đề xuất các giải pháp phòng ngừa, hạn chế giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn, khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất cho 7 vùng điều tra.
Ông Nguyễn Trung Phát, Chủ nhiệm Dự án cho biết: Kết quả của Dự án đã làm sáng tỏ được cấu trúc ĐCTV, điều kiện tồn tại, sự phân bố của các TCN trầm tích Đệ tứ và Neogen trong vùng điều tra. Trong vùng từ Đà Nẵng đến Bình Thuận gồm có các TCN q, qh, qp, n và β(n-qp). Kết quả nghiên cứu đã xác định được diện phân bố, thành phần thạch học, mức độ chứa nước, phân bố mặn nhạt, đặc tính thuỷ lực, diễn biến mực nước và khả năng khai thác các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ và Neogen.
Theo ông Nguyễn Trung Phát, tổng tiềm năng tài nguyên dự báo nước dưới đất tại 7 vùng điều tra từ Đà Nẵng đến Bình Thuận là 8.248.668m3/ngày, trong đó phần nước nhạt là 6.678.722m3/ngày, phần nước mặn là 1.569.946m3/ngày. Tổng trữ lượng có thể khai thác phần nước nhạt là 2.003.617m3/ngày. Trong đó: Vùng Tam Kỳ - Đà Nẵng - Chu Lai: 280.822m3/ngày; Vùng Bình Sơn - Quảng Ngãi - Mộ Đức: 338.364m3/ngày; Vùng Bồng Sơn - Phù Mỹ - Phù Cát: 487.358m3/ngày; Vùng Sông Cầu - Tuy Hoà - Đông Hoà 219.555m3/ngày; Vùng Vạn Ninh - Nha Trang - Cam Ranh: 221.966m3/ngày; Vùng Ninh Hải - Phan Rang - Ninh Phước: 117.312m3/ngày; Vùng Lương Sơn - Phan Thiết - Hàm Tân:  288.241m3/ngày. Dự án cũng đã đánh giá đầy đủ nhất về hiện trạng chất lượng nguồn nước dưới đất, phân vùng các khu vực nước dưới đất có chất lượng tốt, đảm bảo cấp nước cho ăn uống sinh hoạt và phát triển kinh tế  - xã hội trong vùng.
Bên cạnh đó, kết quả điều tra, khảo sát và thống kê cho thấy tổng lượng nước dưới đất khai thác, sử dụng tại 7 vùng, có tổng lưu lượng khai thác khoảng 406.635,19 m3/ngày đêm. Trong đó, khai thác quy mô tập trung bởi các nhà máy nước, trạm cấp nước tập trung với  công suất lớn khoảng 154.931 m3/ngày đêm; khai thác nước đơn lẻ của các công ty, xí nghiệp khoảng 216.126,6 m3/ngày đêm và khai thác nước nông thôn khoảng 35.577,59 m3/ngày đêm.
Xác định các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
Báo cáo Dự án do ông Nguyễn Trung Phát trình bày cũng đã xác định cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học trong Nghị định số 167/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc hạn chế khai thác nước dưới đất làm căn cứ và tiêu chí để vùng hạn chế khai thác NDĐ trong trầm tích Đệ tứ và neogen từ Đà Nẵng đến Bình Thuận.
Tổng diện tích hạn chế trong vùng điều tra là 5.183,4 km2. Trong đó: Vùng hạn chế khai thác 1 là khu vực liền kề với biên mặn, có hàm lượng tổng chất rắn hòa tan (TDS) từ 1.500 mg/l trở lên: Phân bố dọc theo biên mặn có khoảng cách không quá 1.000m từ biên mặn vào vùng phân bố nước nhạt. Tổng diện tích khoanh định được là 1.317,42 km2.
Khu vực liền kề với các bãi rác/bãi chôn lấp, được khoanh định với bán kính không quá 3.000m, gồm bãi chôn lấp chất thải với tổng diện tích khoanh định được là 358,11 km2.
Khu vực có giếng khai thác nước dưới đất bị ô nhiễm. Phạm vi khoanh định bán kính từ 200m ở một số giếng khai thác có chỉ tiêu vượt GHCP. Tổng diện tích khoanh định là 15,45 km2.
Khu vực có nghĩa trang tập trung hoặc các khu vực có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất. Khu vực này sẽ do Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định cho nên sẽ không đưa vào khoanh định trong báo cáo này.
duan_BinhThuan-3Bơm thử nghiệm nguồn nước
Vùng hạn chế khai thác 2: là khu vực xung quanh giếng nằm trong phạm vi vùng có mực nước động vượt quá mực nước cho phép hoặc mực nước dưới đất bị suy giảm liên tục và có nguy cơ bị hạ thấp quá mức. Tổng diện tích khoanh định được là 417,62 km2.
Vùng hạn chế khai thác 3: là vùng đã được đấu nối với hệ thống cấp nước tập trung hoặc chưa được đấu nối nhưng có điểm đấu nối liền kề của hệ thống cấp nước tập trung và sẵn sàng để cung cấp nước sạch. Tổng diện tích khoanh định được là 1.196,92 km2.
Vùng hạn chế khai thác 4: là vùng khu dân cư, khu công nghiệp tập trung (không thuộc Vùng hạn chế 3) cách nguồn nước mặt không quá 1.000m, và nguồn nước mặt có đủ 3 tiêu chí: Có chức năng hoặc được quy hoạch để cấp nước sinh hoạt; Lưu lượng dòng chảy ổn định và > 10m3/s (với sông, suối, kênh, rạch) hoặc dung tích từ >10 triệu m3 trở lên đối với hồ chứa; Có chất lượng nước đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt cột A1 trở lên. Tổng diện tích khoanh định được là 394,194 km2.
Vùng hạn chế khai thác hỗn hợp: Trường hợp có các khu vực hạn chế thuộc vùng hạn chế 1, 2, 3 và 4 nêu trên bị chồng lấn nhau, thì phần diện tích chồng lấn được xếp vào Vùng hạn chế hỗn hợp. Tổng diện tích khoanh định được là 682,63 km2.
Kết quả thi công của Dự án đã thành lập các danh mục, bản đồ chất lượng nước dưới đất, hiện trạng khai thác, xác định vùng hạn chế khai thác NDĐ tỷ lệ 1:50.000 các vùng từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đề ra. Các bản đồ, danh mục vùng hạn chế đã phân chia chi tiết theo đơn vị hành chính, diện tích và vị trí đại diện cho vùng. Bộ tài liệu này là cơ sở để giúp các địa phương quản lý TNN sử dụng dễ dàng hơn.
Trên cơ sở đó, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung kiến nghị cần thiết đẩy mạnh công tác điều tra, thăm dò chi tiết ở những khu vực chứa nước tương đối giàu của các tầng chứa nước Holocen, Pleistocen. Tiến hành tổng hợp, đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống và chi tiết hơn tài nguyên NDĐ trong vùng nghiên cứu và tiến hành công tác quy hoạch tổng thể tài nguyên nước trong vùng. Khi điều tra cung cấp nước sinh hoạt đối với những khu vực bị ô nhiễm hợp chất Nitơ, các nguyên tố Mangan, Florua, độ cứng cao,… cần chú ý đánh giá chi tiết chất lượng nước đối với các chỉ tiêu này. Đặc biệt là, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các nguồn xả thải công nghiệp, sinh hoạt nhằm hạn chế ảnh hưởng đến nguồn nước dưới đất.

Bàn giao thêm một trạm cấp nước sinh hoạt miễn phí cứu hạn, mặn tại tỉnh Cà Mau

There are no translations available.

Sáng 12/4 tại xã Tân Trung, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, Dự án tăng cường bảo vệ nước ngầm tại Việt Nam - Viện Khoa học Địa chất và Tài nguyên Liên bang Đức (BGR) phối hợp với Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam, thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia đã tổ chức buổi lễ bàn giao công trình cung cấp nước sinh hoạt miễn phí cho nhân dân tỉnh Cà Mau.

Bộ Tài nguyên và Môi trường bàn giao công trình cung cấp nước sinh hoạt miễn phí cho nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau

There are no translations available.

Sáng 11/4, tại xã Biển Bạch Đông, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam bộ, thuộc Tổng cục Khí tượng Thủy văn phối hợp với Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam, thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia đã tổ chức buổi lễ bàn giao công trình cung cấp nước sinh hoạt miễn phí cho nhân dân tỉnh Cà Mau.