Thu12022021

Last update12:28:21 AM GMT

Công trình dự án

Hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất đô thị Long Xuyên

There are no translations available.

thanhpholongxuyenThành phố Long Xuyên, là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh An Giang, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Là một trung tâm kinh tế của tỉnh An Giang, về kinh tế, thành phố đóng vai trò đầu tàu trong quá trình phát triển, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tăng cường bảo vệ tài nguyên nước ngầm ở Thành phố Rạch Giá

There are no translations available.

Nguồn tài nguyên nước dưới đất là nguồn tài nguyên tái tạo nhưng không phải là vô tận, nguồn tài nguyên này khó bị ô nhiễm hơn nước mặt nhưng khi bị ô nhiễm thì rất khó khắc phục. Do sự phát triển kinh tế-xã hội, gia tăng dân số và biến đổi khí hậu, tài nguyên nước ngầm ngày càng có xu hướng suy giảm cả về số lượng và chất lượng, ô nhiễm diễn ra ở nhiều khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long, tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cũng không phải ngoại lệ.

Dự án “Rà soát, điều chỉnh bổ sung các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”

There are no translations available.

Năm 2020, Trung tâm Dữ liệu tài nguyên nước vừa hoàn thiện Dự án “Rà soát, điều chỉnh bổ sung các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”.

Hà Nam hoàn thành danh mục nguồn nước cần lập hành lang bảo vệ trên địa bàn toàn tỉnh

There are no translations available.

Để bảo đảm chất lượng các nguồn nước cũng như kiểm soát được các hoạt động khai thác, sử dụng nước và hoạt động xả nước thải vào nguồn nước bảo đảm an toàn, năm 2019, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam phối hợp với Trung tâm Dữ liệu tài nguyên nước với vai trò là đơn vị tư vấn đã hoàn thành Dự án: “Điều tra, xác định danh mục nguồn nước cần lập hành lang bảo vệ trên địa bàn tỉnh Hà Nam”. Đây là dự án quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.

Thực trạng và giải pháp khai thác hạn chế xâm nhập mặn nước dưới đất Đồng bằng sông Cửu Long

There are no translations available.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở cuối nguồn sông Mê Công, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Đây là vùng được đánh giá là một trong ba đồng bằng châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu. Do áp lực từ việc gia tăng dân số, phát triển kinh tế, xã hội sẽ kéo theo hàng loạt những thách thức tại vùng ĐBSCL như gia tăng lũ, ngập lụt, xâm nhập mặn vào sâu, khai thác nước quá mức, môi trường nước và suy giảm đa dạng sinh học,... Điều này đã tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế-xã hội của vùng ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung.

6-1aẢnh minh họa.

Tài nguyên nước nước dưới đất và xâm nhập mặn vùng ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong các vùng có tiềm năng nước dưới đất lớn nhất nước ta, có 9 tầng chứa nước, gồm 8 tầng chứa nước trong các trầm tích lỗ hổng và 1 tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ. Tiềm năng nước dưới đất nhạt là 22.513.989 m3/ngày. Tiềm năng nước dưới đất mặn là 39.124.326 m3/ngày. Trữ lượng có thể khai thác an toàn của nguồn NDĐ bằng 20% tổng trữ lượng khai thác tiềm năng NDĐ nhạt (tức là bằng 4.502.597m3/ngày). Tầng chứa nước qp2-3 đã bị khai thác quá mức an toàn. Tầng chứa nước n21 còn có thể khai thác 925.172 m3/ngày được coi là tầng chứa nước có khả năng khai thác lớn nhất.

Tầng chứa nước qp2-3 và tầng n22 là những tầng có trữ lượng cũng như số lượng lỗ khoan lớn phân bố tập trung như Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu (tầng qp2-3), Trà Vinh, An Giang, Đồng Tháp (tầng n22). Trên bản đồ ranh giới mặn nhạt và vùng có nguy cơ xâm nhập mặn có thể thấy ở tầng qp2-3 các khu vực như Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu đang có nguy cơ bị xâm nhập mặn. Trong khi đó thì tất cả diện tích nước nhạt trong tầng n22 đều có nguy cơ bị xâm nhập mặn tấn công trong tương lai.

Ở những vùng nông thôn, hầu như gia đình nào cũng có 1 giếng khoan, có hộ có 3 - 4 giếng. Các lỗ khoan khai thác nước dưới đất đơn lẻ ngày càng gia tăng không kiểm soát để bù đắp lượng nước thiếu hụt do hạn, mặn. Cùng với các nhu cầu cho ăn uống, sinh hoạt, thì nhu cầu cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản cũng rất rõ ràng khi diện tích trồng lúa hiện nay có xu hướng giảm nhưng nhu cầu sử dụng nước tưới lúa vẫn cao. Nhu cầu sử dụng nước cho nuôi trồng thủy sản rất lớn lên tới 41.481.612 m3/ngày. Do nhu cầu sử dụng tăng nên người dân sẽ giữ nước trong ao, hồ, đầm để nuôi trồng. Điều này làm nước không lưu động nên gây ảnh hưởng xấu tới xâm nhập mặn. Ngoài ra, nước trên mặt còn thấm xuyên xuống nước ngầm. Về nhu cầu sử dụng nước cho chăn nuôi gia súc, gia cầm không lớn, đạt 438.695 m3/ngày, tuy nhiên, cũng có ảnh hưởng tới xâm nhập mặn thậm chí, chăn nuôi còn ảnh hưởng xấu tới chất lượng nước nếu không xử lý tốt chất thải do chăn nuôi thải ra. ... Chính vì vậy, nhu cầu của nông nghiệp với việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng ảnh hưởng nhiều tới xâm nhập mặn.

Do mức độ khai thác nước ngày càng tăng cả về số lượng công trình, quy mô khai thác, nhất là trong khoảng 15 năm trở lại đây. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn nước dưới đất trong vùng, nhất là các khu vực tập trung công trình khai thác lớn.

Giải pháp khai thác hạn chế xâm nhập mặn nước dưới đất vùng ĐBSCL

Tài nguyên nước - nền tảng cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, ĐBSCL trong tương lai - đã, đang và sẽ tiếp tục biến đổi sâu sắc với hướng nêu trên, đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về cách thức quản lý, sử dụng nước để bảo đảm phát triển bền vững ĐBSCL sau này.

- Thay đổi hình thức, khai thác, sử dụng:

+ Những năm trước đây hình thức khai thác lỗ khoan quy mô nhỏ kiểu UNICEF rất phổ biến. Nhưng hiện nay người dân đã không sử dụng nước từ các lỗ khoan loại này, các cấp chính quyền cũng khuyến cáo, hạn chế hoặc cấm không cho khoan thêm lỗ khoan loại này. Vì vậy, trong tương lai hình thức khai thác, sử dụng nước dưới đất loại này trên địa bàn vùng ĐBSCL sẽ không phát triển. Thay vào đó, hình thức khai thác, sử dụng nước dưới đất quy mô tập trung (trạm cấp nước nông thôn) trên địa bàn các tỉnh/thành phố vùng ĐBSCL sẽ phát triển mạnh và rộng rãi.

+ Ngoài ra, hình thức khai thác, sử dụng nước dưới đất quy mô công nghiệp trên địa bàn cũng sẽ hạn chế phát triển, mà thay thế dần bằng hình thức khai thác, sử dụng nước từ các nhà máy nước dùng nguồn nước mặt.

- Quản lý hiệu quả khai thác sử dụng:

Công tác quản lý khai thác sử dụng nguồn tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long là hết sức quan trọng và rất khó khăn, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ và nhất quán từ cơ quan quản lý nhà nước đến địa phương và người dân. Một số giải pháp quản lý khai thác sử dụng cần được áp dụng trong vùng cụ thể như sau:

+ Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước dưới đất.

+ Lập, phê duyệt, công bố và tổ chức thực hiện quy hoạch tài nguyên nước dưới đất: hiện tại, 12/13 tỉnh vùng ĐBSCL đã tiến hành lập các dự án qui hoạch tài nguyên nước. Để hỗ trợ thực hiện quy hoạch cần có các quy định, công cụ, chính sách kinh tế, tài chính.

+ Tiến hành lập, phê duyệt, công bố và tổ chức thực hiện kế hoạch điều tra cơ bản, điều hòa, phân phối tài nguyên nước dưới đất, phục hồi nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt.

+ Khoanh định, công bố vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, vùng cần bổ sung nhân tạo nước dưới đất, ngưỡng khai thác nước dưới đất. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tỉnh nào trong số 13 tỉnh ĐBSCL tiến hành việc lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước, vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; bảo đảm nước sinh hoạt trong trường hợp hạn hán, thiếu nước hoặc xảy ra sự cố ô nhiễm nguồn nước.

+ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước dưới đất: hiện nay, các Sở Tài nguyên Môi trường các tỉnh đã chú trọng công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả họat động của bộ máy quản lý tài nguyên môi trường.

- Tổ chức thực hiện các hoạt động điều tra cơ bản, giám sát tài nguyên nước dưới đất; báo cáo kết quả điều tra cơ bản tài nguyên nước dưới đất, tình hình quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước dưới đất, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra. Cụ thể như: Lập bản đồ địa chất thủy văn, bản đồ tài nguyên nước dưới đất, chất lượng các nguồn nước dưới đất; Tìm kiếm, đánh giá số lượng và chất lượng các nguồn nước dưới đất; Đánh giá tình hình ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt, nhiễm mặn nguồn nước dưới đất; Xác định ngưỡng khai thác đối với các tầng chứa nước, khả năng bổ sung nhân tạo nước dưới đất; Đánh giá, cảnh báo, dự báo tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước dưới đất, diễn biến bất thường về số lượng, chất lượng các nguồn nước dưới đất và các tác hại do nước gây ra; Xây dựng và duy trì hệ thống mạng quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất,…

Để hạn chế xâm nhập mặn nước dưới đất vùng ĐBSCL, trong thời gian tới, các cơ quan quản lý, ban, ngành địa phương cần tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách, pháp luật về tài nguyên nước cho phù hợp. Đồng thời, xây dựng và vận hành mạng quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất, xây dựng quy hoạch tài nguyên nước.... Cùng với đó cần phải đổi mới cơ chế điều phối, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Xác định rõ nguyên nhân sụt lún tại núi Móng Rồng, tỉnh Hà Nam

There are no translations available.

Từ năm 2018, tại khu vực núi Móng Rồng, thị trấn Kiện Khê đã xuất hiện hiện tượng nứt kèm theo sụt lún đất, đến giữa năm 2019 hiện tượng này diễn ra mạnh hơn làm một số ngôi nhà của người dân bị nứt tường, nền nhà, nhà bị lún nghiêng khiến người dân hết sức lo lắng. Trước tình trạng đó, tháng 7/2019, Trung tâm Dữ liệu Tài nguyên nước phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam và các chuyên gia địa chất, địa chất thủy văn đã sơ bộ điều tra, đánh giá, xác định nguyên thông qua tiến hành ký hợp đồng dịch vụ tư vấn số 01/HĐTV về việc thực hiện đề án “Khảo sát, đánh giá nguyên nhân sụt lún tại núi Móng Rồng tiểu khu La Mát, tiểu khu Châu Giang, thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”.

Giải bài toán tìm kiếm và đảm bảo nguồn nước ngọt trên đảo Hòn Tre

There are no translations available.

Đảo Hòn Tre thuộc xã Hòn Tre, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Đảo nằm trong vịnh Rạch Giá thuộc Biển Tây, cách bến tàu Rạch Giá khoảng 30km về hướng tây nam. Diện tích 4,3km2 (428,59ha). Đảo có tiềm năng lớn về du lịch, trong tương lai Hòn Tre sẽ trở thành khu du lịch sinh thái mới của tỉnh Kiên Giang. Dân số trên đảo có 4.376 người với 1.047 hộ gia đình, phần lớn là dân di cư từ đất liền ra đảo.

Những kết quả đạt được sau khi nghiên cứu đề xuất bộ công cụ mô hình toán dự báo tài nguyên nước mặt, nước dưới đất phù hợp với điều kiện lưu vực sông ở Việt Nam

There are no translations available.

Công tác dự báo tài nguyên nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý và quy hoạch tài nguyên nước (phân bổ, chia sẻ tài nguyên nước). Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có một bộ công cụ nào hoàn chỉnh để dự báo tài nguyên nước mặt, nước dưới đất cho một lưu vực sông. Dự báo tài nguyên nước là dự báo diễn biến cả về số lượng (Wtb,Max,Min, Htb,Max,Min) và chất lượng nước (độ mặn, BOD5, COD, N-NH4, P-PO4, TSS, độ đục, Tổng Coliform...) theo thời gian và không gian trên lưu vực sông. Trong khi đó, công tác dự báo tài nguyên nước ở nước ta chỉ tập trung vào dự báo HMax,Min, QMax, Min, để phục vụ cho phòng chống lũ, lụt, hạn hán và các vấn đề về nông vụ, nuôi trồng thuỷ sản, chưa dự báo được tổng lượng nước (W) tại các vị trí là bao nhiêu, chất lượng nước, độ mặn là như thế nào, có đảm bảo cung cấp cho các hộ khai thác sử dụng hay không? Chính vì vậy, việc nghiên cứu lựa chọn được bộ công cụ mô hình toán để dự báo tài nguyên nước phù hợp với từng điều kiện lưu vực sông chính ở Việt Nam là cần thiết. Đặc biệt trong thời gian 5 năm đến 10 năm tới bài toàn dự báo tài nguyên nước, về thời đoạn dự báo cần tiếp cận tới thời gian thực, yếu tố dự báo cần dự báo được cả về số lượng và chất lượng nước mặt, nước dưới đất. Xuất phát từ lý do trên, từ năm 2017-2020, ThS. Thân Văn Đón cùng các công sự tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất bộ công cụ mô hình toán dự báo tài nguyên nước mặt, nước dưới đất phù hợp với điều kiện lưu vực sông ở Việt Nam”.

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tích cực vào hoàn thiện hệ công cụ hỗ trợ trong quản lý tài nguyên nước nói chung và dự báo số lượng tài nguyên nước mặt nói riêng nhằm sử dụng hiệu quản tài nguyên nước lưu vực sông theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững.

Một số kết quả nổi bật của nghiên cứu:

Về tiêu chí lựa chọn mô hình:

Theo đặc điểm của các mô hình toán thủy văn, nhóm tác giả đã nghiên cứu nhóm tiêu chí và đề xuất tiêu chí lựa chọn mô hình dự báo thủy văn dựa trên các tiêu chí được thiết lập qua kinh nghiệm và nghiên cứu của Baker và Carder, 1976 bao gồm 6 tiêu chí: 1. Tính dễ sử dụng của mô hình; 2 Khả năng số liệu; 3. Khả năng của mô hình; 4. Khả năng đối với các hoạt động quản lý rừng; 5. Khả năng áp dụng cho các vùng địa lý khác nhau; 6. Độ chính xác của dự báo.

Tương tự đối với mô hình cân bằng nước và diễn toán dòng chảy, nhóm tác giả đã nghiên cứu nhóm tiêu chí đề xuất tiêu chí lựa chọn mô hình dựa trên các tiêu chí được thiết lập qua kinh nghiệm và nghiên cứu của Mr. Rick Walls, 2007 có liên quan như sau: 1. Khả năng diễn toán dòng chảy mùa khô và mùa lũ; 2. Giao diện mô hình; 3. Quản lý kịch bản; 4. Dịch vụ và hỗ trợ khách hàng; 5. Giá cả; 6. Dễ sử dụng; 7. Tốc độ tính toán.

Đối với mô hình dự báo nước dưới đất, nhóm tác giả đã nghiên cứu nhóm tiêu chí đề xuất tiêu chí lựa chọn mô hình là:1. Cấu trúc địa chất: Tầng chứa nước lỗ hổng, bở rời; 2. Khả năng số liệu của vùng nghiên cứu; 3. Khả năng kết nối với các mô hình khác; 4. Khả năng diễn toán dòng chảy mùa khô và mùa lũ;5. Giao diện mô hình; 6. Quản lý kịch bản; 7. Dịch vụ và hỗ trợ khách hàng; 8. Giá cả; 9. Dễ sử dụng; 10. Tốc độ tính toán.

Về mô hình toán:

Sau khi được nghiên cứu kỹ lưỡng và đánh giá lựa chọn thông qua các tiêu chí đánh giá lựa chọn, nhóm nghiên cứu đã đề xuất được bộ công cụ mô hình tính toán dự báo tài nguyên nước mặt đáp ứng được các yêu cầu chủ chốt và phù hợp với các lưu vực sông chính ở Việt Nam (gồm 13 lưu vực sông) đó là: 1. Mô hình Mike - Nam để tính toán dòng chảy (thủy văn); 2. Mô hình Mike Basin để tính toán cân bằng nước; 3. Mô hình Mike 11 để diễn toán dòng chảy (thủy lực). Quá trình đề xuất được thực hiện dựa trên việc định tính (bộ tiêu chí đánh giá) và định lượng (bộ công cụ AHP đánh giá trọng số tiêu chí) đưa ra kết quả đề xuất công cụ mô hình phù hợp tính toán tài nguyên nước đối với từng lưu vực sông. Còn với mô hình nước dưới đất là mô hình SEAWAT được xây dựng dựa trên nền tảng của mô hình MODFLOW được đề xuất và lựa chọn để nghiên cứu trong đề tài.

Về ứng dụng thực tế của bộ công cụ mô hình toán:

Bộ công cụ đã được ứng dụng thử nghiệm tại lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn - con sông lớn nhất miền Trung, diễn biến tài nguyên nước rất phức tạp. Trong nghiên cứu này đã tích hợp mô hình mưa - dòng chảy thông số tập trung Mike - Nam, mô hình thủy lực Mike 11 và công cụ tính triều trong Mike 21 để dự báo dòng chảy đến hồ, cân bằng nước và diễn toán dòng chảy trong sông Vu Gia Thu Bồn theo thời gian thực và theo tháng, mùa và năm. Kết quả nghiên cứu dự báo thử của tháng 9 năm 2020 cho kết quả tốt, là cơ sở nâng cao chất lượng dự báo tài nguyên nước mặt cho các đơn vị thực hiện nghiệp vụ cảnh báo và dự báo tài nguyên nước thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia và các đơn vị liên quan. Còn diễn biến về chất lượng nước mặt, nước dưới đất và diễn biến dòng chảy, mực nước dưới đất thì chưa có điều kiện để thử nghiệm ở lưu vực sông điển hình.

Có thể tìm đọc kết quả thử nghiệm tại trình duyệt web, (Google Chrome, Firefox), địa chỉ phần mềm như sau: https://tnn.chatluongnuoc.com.