Sat01222022

Last update06:35:23 AM GMT

Hỏi - Đáp

Các tầng chứa nước dưới đất của tỉnh Bắc Ninh có đặc điểm như thế nào ?

There are no translations available.

Trả lời:
1. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh)
Các trầm tích thuộc hệ tầng Thái Bình nguồn gốc sông, lộ ra rải rác khắp tỉnh. Đối với tỉnh Bắc Ninh tầng chứa nước này phân bố không liên tục, những nơi lộ thành tạo cách nước mQ13vp thì tầng chứa nước này vắng mặt. Thành phần thạch học chủ yếu là cát, cát pha màu xám, xám đen có chứa mùn thực vật. Chiều dày của tầng chứa nước biến đổi từ 0 đến 2,0 đến 32,00 m, trung bình 8,1 m. Mức độ chứa nước từ trung bình đến nghèo tùy thuộc chiều dày của chúng. Tầng này thường có mực nước tĩnh nằm nông (cách mặt đất 0,45 đến 8m) và có mặt thoáng tự do, thường xuyên được bổ cập từ nước mưa và nước mặt. Tài liệu hút nước thí nghiệm tại LK.6C4655 có mực nước tĩnh 0,45m, hạ thấp mực nước 6m, lưu lượng 0,6l/s. Động thái của nước phụ thuộc chế độ khí tượng thủy văn. Nguồn nước nhạt của tầng chứa nước này có chất lượng tốt, được nhân dân trong tỉnh khai thác sử dụng.
2. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)
Tầng chứa nước lỗ hổng có áp Pleistocen (qp) bao gồm đất đá thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc (aQ13 vp) và hệ tầng Hà Nội (aQ12-3 hn) diện tích lộ ra khoảng 43 km2 tại các xã Phượng Mao, Nhân hoà, Việt Thống, Bằng An huyện Quế Võ, còn đa phần bị phủ bởi tầng qh hoặc các lớp sét Vĩnh Phúc. Thành phần là cát, cuội và sạn. Sự phân bố của chúng không đồng đều trên diện tích của tỉnh, phụ thuộc vào bề mặt đá gốc. Nóc tầng thường thay đổi từ 5m đến hơn 20m, đáy tầng sâu nhất đến 75m, chiều dày trung bình 38m. Đây là tầng chứa nước có áp, mực nước tĩnh thường nằm nông, sâu nhất khoảng 4m đôi chỗ bằng và gần bằng mặt đất. Đây là tầng giàu nước, lưu lượng lỗ khoan lớn nhất tới 25,31 l/s tại LK. 6C4550. Hệ số dẫn nước từ 603 đến 2.099m2/ng. Tầng chứa nước này giàu nước có giá trị cung cấp nước và hiện đang được nhân dân trong tỉnh khai thác các khoảnh nước nhạt.
3. Tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong trầm tích Neogen (n)
Tầng chứa nước này không lộ trên mặt chỉ phân bố ở huyện Thuận Thành và huyện Lương Tài, ở dải phía tây từ Từ Sơn kéo sang Hà Nội, chiều sâu phân bố từ 50 đến khoảng 280m ( ở Từ Sơn-LK. 6C4642) ( Xem mặt cắt  tuyến (B1 - N1 và B2 - N2). Thành phần gồm cát kết, sét kết sạn kết cuội kết gắn kết yếu. tầng này thuộc loại giàu nước, tài liệu hút nước thí nghiệm tại LK.6C4642 có lưu lượng 7,1l/s. Nước trong tầng vận động dưới dạng áp lực. Nguồn cung cấp nước cho tầng nguồn cung cấp nước cho tầng chủ yếu là nước mưa và nước mặt (sông hồ) thông qua tầng chứa nước trên nó bởi các "Cửa sổ địa chất thuỷ văn”. Nước trong tầng bao gồm cả nước nhạt và nước mặn tổng khoáng hóa từ 0.089  đến 1,67g/l . Loại hình hóa học của nước chuyển dần từ Bicarbonát canci đến Clorua Bicarbonat Canci Natri, nước mặn có loại hình Clorua Natri. Nước trong tầng chứa nước này thường có hàm lượng sắt cao. Tầng chứa nước này có diện phân bố hầu hết trong tỉnh và bị các trầm tích có tuổi hơn phủ kín. Mức độ chứa nước phong phú, chất lượng không đồng đều. Tầng chứa nước này giàu nước có giá trị cung cấp nước.
4. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích hệ Triat muộn (t3 )
Tầng chứa nước này đa phần bị phủ chỉ lộ ra ở núi Hàm Long, một khoảnh phía Nam đồi Đáp Cầu, phía Đông thị xã Bắc Ninh, xã Vân Dương, xã Phong Châu, huyện Quế Võ, khu huyện lỵ Tiên Sơn và rải rác một số đồi nhỏ phố núi xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, còn lại chìm dưới tầng chứa nước n và qp. Thành phần thạch học là : sạn kết, cuội kết, cát kết lẫn bột kết, đá phiến sét, sét than và đá phun trào gắn kết chặt. Chiều dày trung bình 300 m. Tầng chứa nước này thuộc loại nghèo nước, nhưng mức độ chứa nước không đều cả theo diện và theo chiều sâu; đôi khi gần các đứt gãy có thể gặp lỗ khoan có lưu lượng trung bình nhưng ít gặp. Nước trong tầng báo gồm cả nước nhạt và nước mặn, ở phần lộ thường chứa nước nhạt. Động thái của nước phụ thuộc chế độ khí tượng thủy văn, có lẽ nguồn cung cấp cho tầng chủ yếu là nước mưa. Nhìn chung tầng chứa nước này ít có giá trị cung cấp nước.
5. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích hệ triat giữa hệ tầng Nà khuất (t2 nk)
Tầng này chỉ lộ ra một chỏm nhỏ khoảng 1km2 thuộc xã Yên Phụ huyện Yên Phong, thành phần chủ yếu là cát kết, bột kết. Tầng có chiều dày 200 m, chưa có lỗ khoan nào nghiên cứu tầng chứa nước này. Dựa vào tài liệu giếng khoan của nhân dân chúng tôi xếp tầng vào loại nghèo nước
6. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích Péc mi hệ tầng Bãi Cháy (p2)
Chỉ lộ ra phía nam xã Nam Sơn Huyện Quế Võ với diện lộ chừng 0,5 km2 thành phần gồm  Silic, đá phiến silic đặc xít không nứt nẻ, chưa có tài liệu nghiên cứu, dựa vào thành phần thạch học tác giả xếp vào loại nghèo đến cách nước.

Những bài học kinh nghiệm rút ra khi thực hiện dự án Điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước?

There are no translations available.

Trả lời:
Trong điều kiện thi công dự án gặp rất nhiều khó khăn, do là những vùng núi cao, vùng sâu vùng xa, khó khăn về đặc điểm về địa hình, địa mạo, giao thông, ĐC, ĐCTV… để nâng cao hiệu quả công tác thi công các công trình và tính thiết thực, giá trị sử dụng công trình khai thác nước, trên cơ sở kết quả thi công giai đoạn I dự án đã đúc rút được những kinh nghiệm, cho công tác thi công các đề án tương tự tiếp theo.
* Lựa chọn các vùng điều tra và đối tượng điều tra
- Trên cơ sở yêu cầu của địa phương (cấp tỉnh, có thể là Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Trong quá trình thi công phải có quan hệ chặt chẽ cộng tác, phối hợp với địa phương, nhất là Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh thực hiện dự án.
- Sự khan hiếm và đặc biệt khó khăn về nguồn nước phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt như các vùng: vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số... nơi có nguồn nước mặt bị ô nhiễm, nhiễm mặn…
- Vùng phải có khả năng và tiền đề chứa nước của các thể địa chất, các đứt gãy kiến tạo, hang hốc karst, các khoảnh chứa nước ngọt…
- Các phương pháp kỹ thuật thi công thực địa phải được thực hiện theo trình tự khoa học, kế thừa và hỗ trợ bổ sung cho nhau.
- Trong công tác điều tra, đánh giá nước dưới đất đối tượng chứa nước là các đá trầm tích lục nguyên, đá vôi, mức độ dập vỡ, nứt nẻ, hang hốc karst phát triển mạnh dẫn tới điều kiện ĐCTV là cực kỳ phức tạp, trong các vùng này công tác địa vật lý cần được đầu tư đúng mức về khối lượng và các dạng công tác. Công tác địa vật lý phải được thi công thực địa vào mùa khô, vì mùa mưa điện trở tiếp đất ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phân tích.
- Trong vùng chọn tầng có triển vọng nhất để thi công trước, không nên thi công khoan ồ ạt trong cùng một vùng.
Qua thực tế thi công dự án đã tuân thủ và lựa chọn theo nguyên tắc trên là hợp lý, khoa học, theo đúng dự án đã lập.
* Phương pháp, khối lượng điều tra và mức độ đầu tư
- Phương pháp thi công: Qua kết quả thi công đề án cho thấy được về nguyên tắc, trình tự  thi công các phương pháp là hết sức cần thiết. Đối với những vùng chưa có tài liệu về ĐC, ĐCTV thì nhiệm vụ khảo sát ĐC- ĐCTV, công tác địa vật lý là hết sức quan trọng, hai nhiệm vụ này phải được kết hợp chặt chẽ với nhau giữa tài liệu kỹ thuật cũng như quá trình thi công thực địa, tài liệu của hai nhiệm vụ này làm cơ sở chính để xác định vị trí, chiều sâu lỗ khoan địa chất thuỷ văn.
- Trong quá trình thi công các lỗ khoan, kỹ thuật theo dõi phải liên tục có mặt tại hiện trường để đo mực nước xuất hiện trong lỗ khoan và quyết định dừng khoan kịp thời.
- Để giảm thiểu rủi ro trong một vùng không nên thi công ồ ạt các lỗ khoan, thi công lỗ có triển vọng và sâu nhất trước để làm cơ và tiền đề cho các lỗ khoan tiếp theo.
- Khối lượng điều tra và mức độ đầu tư tại mỗi vùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như, tiền đề, đặc điểm về  ĐC, ĐCTV, lượng nước yêu cầu, mua, vận chuyển nước cho khoan…
- Mức độ đầu tư để thực hiện dự án cần được bố trí đúng tiến độ được duyệt để dự án thực hiện liên tục có hiệu quả.
* Chỉ đạo thi công, tổ chức, quản lý sử dụng công trình
- Chỉ đạo thi công: Trong suốt quá trình thi công dự án, đã được sự quan tâm thường xuyên của chuyên viên Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước, Ban Chủ nhiệm dự án, đặc biệt đơn vị chủ trì dự án Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã chỉ đạo chặt chẽ, sát thực trong công tác thi công các công trình ngoài thực địa đều được tính toán cụ thể có tính khép kín, khoa học.
- Trong thời gian thi công thực địa chuyên viên Bộ Tài nguyên và Môi trường, lãnh đạo và các phòng ban chức năng Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã nhiều lần đi kiểm tra thi công, kỹ thuật đồng thời động viên, phát động phong trào thi đua, nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất lao động, an toàn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và đúng tiến độ.
Trong điều kiện thi công đề án có rất nhiều khó khăn như ở xa đơn vị, giao thông, khí hậu, đặc điểm ĐC, ĐCTV …để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thì việc chỉ đạo thi công phải năng động có khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng nghiên cứu, đây cũng là vấn đề hết sức quan trọng để hoàn thành nhiệm vụ và đạt hiệu quả kinh tế.
- Tổ chức thi công
Các đơn vị thi công đã làm tốt công tác tổ chức: chuẩn bị và tập trung nhân lực, kinh tế, thiết bị máy móc tốt nhất để chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đồng thời đã phát động thi đua và có phần thưởng cho các đơn vị hoàn thành tốt nhịêm vụ, có hiệu quả, an toàn đối với người và thiết bị, có quan hệ tốt đẹp với địa phương và nhân dân nơi đóng quân.
- Quản lý sử dụng công trình
Các lỗ khoan có đủ điều kiện đưa vào khai thác đã được hướng dẫn, bàn giao cho các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và các địa phương khai dẫn phục vụ cho nhu cầu dùng nước của nhân dân.

Phương án khai thác, sử dụng tài nguyên nước tại đảo Trà Bản, tỉnh Quảng Ninh là gì?

There are no translations available.

Trả lời:
1. Phương án khai thác, sử dụng cho các nhu cầu
Ở các điểm dân cư phân tán nguồn nước sử dụng cho ăn uống sinh hoạt khá đa dạng, chủ yếu dùng các giếng đào trong Đệ Tứ, một số giếng trong đới phong hóa của đá gốc, đắp các hồ nhỏ tích nước mưa và nước các khe suối, xây bể chứa nước mưa...ở những nơi tập trung người, trong quá trình điều tra địa chất thủy văn của đảo đã bố trí các công trình khoan máy nhằm đáp ứng trực tiếp các yêu cầu về nước tại các tụ điểm dân cư này.
- Nước sinh hoạt
Việc cung cấp nước cho mục đích sinh hoạt, có thể sử dụng các nguồn nước mặt và nước dưới đất đã được đánh giá trữ lượng và chất lượng. Cụ thể, với nước dưới đất có thể khai thác sử dụng trong các tầng có ý nghĩa cấp nước như : tầng chứa nước q, d1-2, d2. Dự án đã thi công 8 lỗ khoan cấp nước tại vị trí các thôn Đông Lĩnh, Nà Na, Điền Xá, Tân Lập, Cái Tỏi. Các nguồn nước mặt có thể khai thác sử dụng bao gồm: Sông Nà Na, Suối Lòng Rinh, Suối Khe Cầu, Suối Đá Bạc. Bên cạnh đó, có thể xây dựng các bể chứa nước nhỏ để tích trữ lượng nước mưa phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong mùa khô.
- Nước tưới
Nước phục vụ cho nhu cầu tưới có thể sử dụng các nguồn nước mặt bao gồm: Sông Nà Na, Suối Lòng Rinh, Suối Khe Cầu, Suối Đá Bạc
- Nước sản xuất, dịch vụ khác
Nước dưới đất được khai thác cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau như mục đích ăn uống, sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ, chăn nuôi, tưới.... Tuy nhiên trên đảo Trà Bản, nước dưới đất cần được khai thác ưu tiên chủ yếu phục vụ sinh hoạt của người dân và các cơ quan ban ngành của huyện đóng trên đảo.
Tuy nhiên, hiện này trên đảo không có các cơ sở kinh tế công nghiệp, chỉ có một lượng không lớn phục vụ các tàu thuyền đi biển. Với nhu cầu này, có thể sử dụng nguồn nước mưa hoặc nưới dưới đất với quy mô nhỏ lẻ.
2. Phương án khai thác, sử dụng nước mặt
Trên đảo có 4 sông suối chính có dòng chảy thường xuyên và 2 hồ nước ngọt, với tổng lượng nước hàng năm khá lớn, chất lượng nước rất tốt.
Hiện nay, dân cư khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt chủ yếu bằng hệ thống dây dẫn, ống tre, ống nhựa… từ các khe suối.
Để phục vụ cho nhu cầu tưới tiêu sản xuất nông nghiệp… đảo đã xây dựng 2 hồ ở thôn Điền Xá, tuy nhiên lượng nước hàng năm cũng chưa thực sự sử dụng hiệu quả. Vì vậy cần lập quy trình điều khiển, tự động hóa và vận hành hệ thống đường ống cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt và trồng trọt; đưa ra kế hoạch tưới tiết kiệm và hợp lý.
Để nguồn nước mặt không bị lãng phí và đảm bảo nguồn nước không bị thiếu hụt trong tương lai, dự án đề nghị các cấp ngành quản lý cần xây dựng thêm một số hồ nhỏ nhằm lưu giữ, điều tiết nguồn nước sử dụng tại các thôn Đông Lĩnh và Tân Lập.
3. Phương án khai thác, sử dụng nước dưới đất
Nước dưới đất dự kiến khai thác ở tầng chứa nước d1-2, sau khi hoàn thành thi công 8 lỗ khoan, Dự án dự kiến sơ đồ khai thác bố trí như sau:
+ Cụm 1: lỗ khoan LKTB1, LKTB2, LKTB3 tại thôn Nà Na, Đông Lĩnh.
+ Cụm 2: lỗ khoan LKTB4, LKTB5, LKTB6 tại thôn Điền Xá.
+ Cụm 3: lỗ khoan LKTB7, LKTB8 tại thôn Tân Lập.
+ Cụm 4: lỗ khoan LKTB9 tại thôn Cái Tỏi.
Sau khi tính toán nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và nông nghiệp, dự án đã xác định được nguồn nước mặt trên đảo Trà Bản hoàn toàn đáp ứng được cho sinh hoạt và nông nghiệp sau 25 năm. Tuy nhiên để đảm bảo nguồn nước sạch phục vụ cho sinh hoạt và ăn uống của người dân khi nguồn nước mặt cạn kiệt trong mùa khô thì có thể khai thác nước dưới đất với sơ đồ dự kiến như trên.

Hiện nay đã có những nghiên cứu nào về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn đô thị Cà Mau?

There are no translations available.

Trả lời:

Các nghiên cứu đã thực hiện trên địa bàn đô thị Cà Mau, gồm:

- Dự án "Lập Bản đồ địa chất thuỷ văn - địa chất công trình Nam Bộ tỷ lệ 1:200.000 được thành lập trên diện tích 54.000 km2 bao trùm toàn bộ diện tích vùng thành phố Cà Mau. Đây là bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ trung bình, phân chia được 6 đơn vị chứa nước (QV, QI-III, QI, N2a, N2b, N1), sơ bộ khoanh định được diện phân bố, mức độ chứa nước, chất lượng nước dưới đất. Trong vùng thành phố Cà Mau đã khoan và kết cấu 2 lỗ khoan 215II-NB (tầng chứa nước n22), 215III-NB (tầng chứa nước n21) và thực hiện bơm hút nước thí nghiệm xác định thông số ĐCTV của 2 tầng chứa nước trên.

- Dự án Điều tra địa chất đô thị Cà Mau, tỷ lệ 1:25.000 được thực hiện năm 1997 trên diện tích 126km2 bao trùm phần trung tâm của thành phố Cà Mau. Dự án đã thi công 4 lỗ khoan thăm dò (CM1, CM2, CM3, CM4) và các dạng công tác kèm theo nghiên cứu trong tầng chứa nước n22. Kết quả nghiên cứu của dự án đã sơ bộ đánh giá đặc điểm nguồn nước dưới đất về diện phân bố, thành phần thạch học, mức độ chứa nước, ...

- Dự án Đánh giá nguồn nước dưới đất vùng thị xã Cà Mau, tỷ lệ 1:50.000 được thực hiện năm 2004 trên diện tích 578km2, bao trùm phần lớn diện tích thành phố Cà Mau. Dự án đã thi công 09 lỗ khoan thăm dò nước dưới đất (07 lỗ khoan nghiên cứu tầng n22; 01 lỗ khoan nghiên cứu tầng n21; 01 lỗ khoan nghiên cứu tầng qp1) và các dạng công tác kèm theo. Các lỗ khoan trên đều tiến hành hút nước thí nghiệm phục vụ xác định các thông số địa chất thủy văn. Kết quả nghiên cứu đã đánh giá khá đầy đủ 4 tầng chứa nước lỗ hổng (qp2-3, qp1, n22, n21), các thành tạo rất nghèo nước về diện phân bố, thành phần thạch học, khả năng chứa nước. Đồng thời cũng phân định được khả năng giàu nghèo của các tầng chứa nước, nghiên cứu tính phân đới thủy hoá, đánh giá chất lượng nước. Đã xác định được tầng chứa nước có triển vọng nhất là tầng Pliocen trên (n22). Trong số 3 tầng chứa nước còn lại là Pleistocen giữa - trên (qp2-3), Pleistocen dưới (qpi) và Pliocen dưới (n21) đã khoanh định được các khoảnh nước nhạt có triển vọng của các tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3) và Pliocen dưới (n21). Thông qua công tác hút nước thí nghiệm và bề dày lớp đất đá chứa nước đã phân định được khoảnh giàu, nghèo của tầng chứa nước Pleistocen dưới.

- Dự án Biên hội - Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc hoàn thành năm 2018. Trong phạm vi khu vực thực hiện tỉnh Cà Mau không tiến hành các dạng công tác ngoại nghiệp. Trên cơ sở các tài liệu đã thực hiện trước đây, dự án đã tiến hành tổng hợp, chỉnh lý, xử lý thông tin dữ liệu; phân tích, đánh giá về đặc điểm nguồn nước dưới đất, chất lượng, trữ lượng nước dưới đất; biên tập các bản đồ tài nguyên nước dưới đất. Về cơ bản dự án thực hiện ở khu vực Cà Mau không có thêm nội dung nghiên cứu mới về nước dưới đất. Tuy nhiên, đây là nguồn tài liệu tham khảo tin cậy, đầy đủ nhất về nước dưới đất khu vực tỉnh Cà Mau.

Ngoài các dự án trên, hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đang triển khai thực hiện Đề án nghiên cứu, đánh giá việc khai thác, sử dụng nước ngầm và tác động đến vấn đề sụt lún nền đất khu vực Tp. Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải pháp khắc phục, giải quyết trước mắt và lâu dài. Kết quả nghiên cứu của Đề án trên là tài liệu thảm khảo chất lượng, tin cậy đối với quá trình thực hiện dự án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn - giai đoạn 2, đặc biệt là khu vực thực hiện thành phố Cà Mau.

Nêu cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, tình hình nghiên cứu thực trạng các tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công

There are no translations available.

Trả lời:
*Cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng:
- Theo ISO 8402: Chất lượng dịch vụ là "Tập hợp các đặc tính của đối tượng, tạo cho đối tượng có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn".
- Tiếp cận chất lượng dịch vụ theo quan điểm của khách hàng:
Chất lượng = Cảm nhận - Kỳ vọng.
Tức là mức độ thỏa mãn của khách hàng chính là mức chất lượng của dịch vụ được cung ứng. Theo cách tiếp cận này, chất lượng chính là do khách hàng cảm nhận và khách hàng đánh giá, mức độ hài lòng đó của khách hàng chính là hiệu số giữa cảm nhận khi tiêu dùng dịch vụ đó của khách hàng và mong đợi của họ trước khi tiêu dùng dịch vụ đó. Có 3 trường hợp xảy ra:
+ Chất lượng dịch vụ được đánh giá là tốt trong trường hợp cảm nhận của khách hàng khi tiêu dùng dịch vụ đó lớn hơn kỳ vọng mong đợi. Hiệu số này càng lớn chất lượng dịch vụ được cho là càng tuyệt hảo.
+ Chất lượng dịch vụ được cho là ổn trong trường hợp mức độ cảm nhận bằng với kỳ vọng mong đợi.
+ Chất lượng dịch vụ được cho là kém trong trường hợp mức độ cảm nhận thấp hơn kỳ vọng mong đợi. Hiệu số này càng bé, chất lượng dịch vụ được cho là càng tồi.
- Nhân tố quyết định kỳ vọng của khách hàng gồm 4 nhân tố chính:
(1). Thông tin truyền miệng.
(2). Nhu cầu cá nhân.
(3). Kinh nghiệm đã trải qua.
(4). Quảng cáo, khuếch trương.
- Mô hình cung ứng dịch vụ (mô hình SERVUCTION) gồm:
+ Phần không nhìn thấy: Tổ chức nội bộ của đơn vị cung ứng.
+ Phần nhìn thấy gồm cơ sở vật chất và nhân viên tiếp xúc (với khách hàng) của đơn vị cung ứng dịch vụ.
- Theo mô hình SERVUCTION nêu trên, chất lượng dịch vụ được quyết định bởi 4 nhóm yếu tố:
+ Nhóm yếu tố thứ nhất thuộc về năng lực của lực lượng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và trực tiếp tạo ra dịch vụ. Chất lượng được tạo ra bởi các yếu tố này gọi là chất lượng chức năng.
+ Nhóm yếu tố thứ hai thuộc về cơ sở vật chất của cơ sở tạo ra dịch vụ. Chất lượng do cơ sở vật chất của đơn vị cung ứng dịch vụ tạo ra gọi là chất lượng kỹ thuật.
+ Nhóm yếu tố thuộc về môi trường xung quanh: Bên cạnh những yếu tố thuộc về cơ sở vật chất và con người, khách hàng có thể thấy hài lòng hay không hài lòng với những gì diễn ra xung quanh không gian mà họ đang hưởng thụ dịch vụ - đó là yếu tố môi trường. Môi trường có thể là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, hoặc thậm chí là văn hóa dịch vụ của tổ chức cung ứng dịch vụ.
+ Nhóm yếu tố thuộc về khách hàng (sự cộng tác của khách hàng trong quá trình thực hiện dịch vụ, ví dụ khi cắt tóc, khám bệnh...)
Như vậy, chất lượng dịch vụ theo quan điểm khách hàng là cơ sở nền tảng của chất lượng dịch vụ, chất lượng cuối cùng phải do khách hàng quyết định.
*Nghiên cứu thực trạng các tiêu chí, chỉ số đánh giá:
Hơn 15 năm qua, Nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến việc cải thiện dịch vụ hành chính trong giải quyết mối quan hệ với tổ chức và công dân thông qua Chương trình tổng thể về cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, công khai và thuận tiện cho người dân. Quá trình này được đánh dấu bằng sự ra đời Nghị quyết 38-CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức. Tiếp đó, Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” ở các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương được ban hành theo Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 20/6/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Tiến thêm một bước nữa, ngày 10/1/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30) và ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thay thế cho Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg nhằm hoàn thiện hơn nữa việc thực hiện cơ chế “một cửa” cho phù hợp với từng loại thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, Nhà nước đã và đang thực hiện các đề án về đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt những người trực tiếp giao tiếp với dân trong việc giải quyết các yêu cầu công dân. Đồng thời, thực hiện đề án hiện đại hoá hành chính nhà nước nhằm xây dựng các công sở hành chính khang trang, hiện đại phục vụ nhân dân một cách tốt nhất.
Việc thực hiện nội dung cải cách quy định trong các văn bản nêu trên đã cải thiện đáng kể việc giải quyết các thủ tục hành chính với công dân và tổ chức, được xã hội đánh giá cao. Những lợi ích mà chương trình cải cách đem lại có thể kể đến như: tiết kiệm thời gian, tiền bạc của dân và người dân cảm thấy hài lòng hơn, gần gũi hơn khi tiếp xúc với các cơ quan công quyền. Tuy nhiên, đánh giá chất lượng các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất mà các cơ quan nhà nước cung ứng như thế nào, vẫn là câu hỏi đặt ra chưa có câu trả lời thoả đáng.
Theo chúng tôi, để trả lời câu hỏi trên cần được lý giải hai điều quan trọng: 1) tiêu chí nào thể hiện chất lượng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất?; và 2) làm thế nào để đánh giá được chất lượng dịch vụ công theo các tiêu chí đó?.
Để tìm kiếm tiêu chí phản ánh chất lượng dịch vụ dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất, trước tiên, chúng ta cần hiểu về chuẩn mực chất lượng của một hàng hoá hay dịch vụ. Hiện có nhiều quan niệm về chất lượng, song chúng tôi cho rằng, chất lượng hàng hoá (hay dịch vụ) là toàn bộ những tính chất và đặc điểm của hàng hoá hoặc dịch vụ có liên quan đến khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Theo khái niệm này, chất lượng được thể hiện ở các đặc tính của hàng hoá hoặc dịch vụ, nhưng nó lại gắn với nhu cầu, yêu cầu (sự thoả mãn) của người tiêu dùng. Nghĩa là, chất lượng hàng hoá, dịch vụ đó được phản ánh qua sự cảm nhận của khách hàng về mức độ đáp ứng yêu cầu. Như vậy, muốn xác định được các tiêu chí phản ánh chất lượng của dịch vụ hành chính công, cần phải tiến hành hai việc:
- Một là, xác định xem khách hàng (công dân, tổ chức) đặt ra những yêu cầu gì đối với từng loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất. Việc xác định khách hàng cần những gì ở một dịch vụ này không phải khó thực hiện, chỉ cần tiến hành một cuộc điều tra hay phỏng vấn đối với nhóm khách hàng thường xuyên sử dụng dịch vụ này.
- Hai là, xác định những yếu tố tạo nên đặc tính của dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất đó. Để xác định, chúng ta cần xem xét đầy đủ tất cả các yếu tố và quá trình tạo nên dịch vụ hành chính công.

Nêu phân loại nguồn nước và các vấn đề liên quan, nêu một số dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến nguồn nước?

There are no translations available.

Trả lời:

1.Phân loại nguồn nước và các vấn đề liên quan

Quy định trong các văn bản pháp lý: Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước ở nước ta. Đây là văn bản pháp luật cao nhất về quản lý tài nguyên nước, các Điều, Khoản trong Luật thể hiện rõ tầm quan trọng của tài nguyên nước và lĩnh vực quản lý tài nguyên nước nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của nước ta. Nội dung của Luật thể hiện hướng tiếp cận quản lý về tài nguyên nước theo xu thế của thế giới đó là quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Theo đó, một số quy định về phân loại nguồn nước, thẩm quyền quản lý, trách nhiệm thi hành, điều phối, giám sát liên quan trực tiếp đến nguồn nước.

Các nghiên cứu về nguồn nước :

1. Sông, hệ thống sông, lưu vực sông:

Một con sông thường được chia làm ba phần: thượng lưu, trung lưu và hạ lưu. Mỗi vùng có các đặc điểm hình thái và tính chất dòng chảy khác nhau, trong các nghiên cứu thường phân vùng sông theo đặcđiểm hình thái để phân tích, đánh giá tài nguyên nước phục vụ quản lý và khai thác sử dụng.Hệ thống sông là một tập hợp các sông nhánh và sông chính chảy cùng nhau và cùng chảy ra biển, sông chính (4) được hình thành từ các sông nhánh (3), các sông nhánh (3) được hình thành từ các sông nhánh (2) và các sông nhánh (2) được hình thành từ các nhánh nhỏ (1). Một hệ thống sông được minh họa như sau:
Hình. 1. Sơ họa hệ thống sông

Lưu vực sông là vùng đất mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và thoát ra ở một cửa chung hoặc thoát ra biển (Luật TNN, 2012). Các lưu vực sông được phân tách nhau bởi đường phân thủy, trên một lưu vực sông lớn có thể phân ra thành các lưu vực sông nhỏ bao gồm các nhánh sông. 

Hình. 2. Phạm vi lưu vực sông.

2. Hệ thống hồ

Hệ thống hồ có thể phân loại gồm hồ chứa nhân tạo và hồ tự nhiên. Tùy theo chức năng của hồ có thể được phân loại, như hồ chứa thủy điện, hồ chứa thủy lợi, hồ sinh thái, hồ chứa đa mục tiêu... Theo mức độ điều tiết dòng chảy có thể phân ra: hồ chứa điều tiết nhiều năm, hồ chứa điều tiết năm (mùa, tháng, tuần). Theo dung tích, hồ chứa có thể phân ra: nhỏ, vừa và lớn. Hồ chứa lớn là loại hồ chứa có dung tích lớn hơn 1 triệu m3.

1. Một số dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến nguồn nước:- Viện Khí tượng Thủy văn nay là Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường xuất bản cuốn "Đặc trưng hình thái lưu vực sông Việt Nam" năm 1985, trong đó trình bày danh mục sông suối các cấp và đặc trưng hình thái lưu vực sông của 2360 sông suối có chiều dài từ 10 km trở lên và có nước chảy thường xuyên và đưa ra các chỉ tiêu về: chiều dài sông chính, chiều dài lưu vực, diện tích lưu vực, các đặc trưng hình thái trung bình lưu vực, số lượng sông suối các cấp của 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực từ 10.000 km2 trở lên và 86 sông vừa và nhỏ khác.

- Báo cáo tổng kết chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước "Cân bằng bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước quốc gia", mã số KC12 do TS. Nguyễn Trọng Sinh và nnk thực hiện năm 1995, đã đưa ra các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng nước sông gồm: 

+ Tổng lượng dòng chảy năm trung bình thời kỳ nhiều năm (1961-1990) của các hệ thống sông/sông, các vùng và cả nước; dòng chảy mùa lũ/mùa cạn và lưu lượng lũ lớn nhất thời kỳ quan trắc và lũ lịch sử theo số liệu điều tra.

+ Chất lượng nước sông gồm: tổng độ khoáng hóa và các thành phần hóa học chính, độ mặn và trữ lượng động tự nhiên.

+ Các chỉ tiêu về trữ lượng nước tĩnh và trữ lượng khai thác tiềm năng của nước ngầm trong các lưu vực sông chính và một số vùng.

- Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước “Đánh giá tính bền vững của việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam, định hướng chiến lược khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đến năm 2020” do Trường Đại học Mỏ và Địa chất thực hiện năm 2005 đã đưa ra các chỉ tiêu về số lượng nước và chất lượng nước dưới đất. Các chỉ tiêu số lượng được đánh giá bằng trữ lượng động tự nhiên (m3/ngày) và trữ lượng khai thác tiềm năng (m3/ngày) theo từng tỉnh và các vùng: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng Nam Bộ. Chất lượng nước ngầm được đánh giá theo các chỉ tiêu về: tổng hàm lượng muối và các thành phần hóa học chính, trị số pH, độ cứng, loại hình hóa học của các tầng chứa nước…

- Đề tài “Kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước quốc gia và xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước” do Cục quản lý tài nguyên nước thực hiện năm 2007 đã đưa ra 05 bộ chỉ tiêu gồm:

(1) bộ chỉ tiêu kiểm kê, đánh giá lượng mưa;

(2) bộ chỉ tiêu về hình thái sông, hồ, đầm phá;

(3) bộ chỉ tiêu về lượng nước sông;

(4) bộ chỉ tiêu về số lượng nước dưới đất;

(5) bộ chỉ tiêu về chất lượng nước, với khoảng 96 chỉ tiêu.

- Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác định nội dung, phương pháp tính, tổng hợp, thống kê các chỉ tiêu tài nguyên nước” do Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện năm 2012 đã đưa ra 05 nhóm chỉ tiêu tài nguyên nước gồm:

1) Nhóm chỉ tiêu về lượng nước.

2) Nhóm chỉ tiêu chế độ nước.

3) Nhóm chỉ tiêu về chất lượng nước.

4) Nhóm chỉ tiêu về các cực trị.

5) Nhóm chỉ tiêu về khai thác, sử dụng.