Thu01202022

Last update06:35:23 AM GMT

Hỏi - Đáp

Nêu phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long?

There are no translations available.

Trả lời:

Năm 2018, Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long” đã được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia triển khai thực hiện. Kết quả dự kiến đạt được của đề tài là xây dựng bộ công cụ (cơ sở dữ liệu, công nghệ quan trắc tự động chuyển giao từ Cộng hòa Liên bang Đức) nhằm nâng cấp, khai thác hiệu quả hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn. Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của hệ thống đó là:

Phương thức chuyển giao

- Hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long (gồm cơ sở dữ liệu, hướng dẫn sử dụng), sẽ được chuyển giao cho Cục Quản lý Tài nguyên nước, các đơn vị của Trung tâm phục vụ cảnh báo, dự báo và xây dựng hoặc điều chỉnh quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên nước.

- Hình thức chuyển giao: cài đặt trên PC và tập huấn sử dụng (kèm theo hướng dẫn sử dụng) cho cán bộ chuyên môn.

Địa chỉ (dự kiến) ứng dụng các kết quả của đề tài

- Cục Quản lý Tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia (Bộ Tài nguyên Môi trường).

- Ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài để giám sát tình hình diễn biến nguồn nước, xâm nhập mặn nhằm trợ giúp công tác chỉ đạo kịp thời phòng, chống, ứng phó tổng thể, hoạch định chiến lược quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nước và thực hiện Nghị Quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

- Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ có liên quan

+ Nghiên cứu xây dựng được bộ tiêu chí xác định điểm quan trắc phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn tài nguyên nước;

+ Xây dựng bộ công cụ tác nghiệp nhằm khai thác hiệu quả hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn;

- Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu

+ Đơn vị chủ trì thực hiện dự án là Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia sẽ sử dụng hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long của đề tài để tác nghiệp trong công tác cảnh báo, dự báo tài nguyên nước.

+ Cục Quản lý Tài nguyên nước và các sở tài nguyên và môi trường trong vùng nghiên cứu có thể sử dụng hệ thống giám sát, cảnh báo sớm cạn kiệt xâm nhập mặn để ra được các quyết định kịp thời trong công tác quản lý tài nguyên nước ở cấp Trung ương cũng như địa phương.

- Đối với kinh tế - xã hội và môi trường

Hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long hỗ trợ định hướng khai thác sử dụng bền vững tài nguyên và phục vụ Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long.

Nguyên tắc khoanh định và áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất được quy định như thế nào tại Nghị định 167/2018/NĐ-CP về quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Theo Điều 3 Nghị định 167/2018/NĐ-CP quy định:

1. Việc khoanh định và áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất phải bảo đảm tuân thủ đúng, đầy đủ các tiêu chí khoanh định và các biện pháp hạn chế cụ thể đối với từng vùng, từng khu vực theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 của Nghị định này.

2. Nguyên tắc khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất:

a) Bảo đảm phù hợp với quy mô, tính chất của các khu vực gây sụt, lún, ô nhiễm, xâm nhập mặn, cạn kiệt nguồn nước dưới đất, đặc điểm của các tầng chứa nước; tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật có liên quan;

b) Ranh giới vùng hạn chế khai thác nước dưới đất phải thể hiện trên bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất được thành lập trên nền bản đồ hành chính hoặc địa hình có cùng tỷ lệ;

c) Tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chí khoanh định cụ thể đối với từng vùng, từng khu vực hạn chế theo quy định của Nghị định này, các quy định của pháp luật về tài nguyên nước, pháp luật khác có liên quan và phải bảo đảm công khai, minh bạch. Không mở rộng phạm vi khoanh định các khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất vượt quá phạm vi quy định tại Nghị định này;

d) Thông tin, số liệu sử dụng để làm căn cứ khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực.

3. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất:

a) Bảo đảm yêu cầu bảo vệ nguồn nước dưới đất, đồng thời phải bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan, bao gồm cả việc bồi thường thiệt hại, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (nếu có) trong trường hợp bị thu hồi giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo quy định của pháp luật;

b) Tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp hạn chế khai thác được áp dụng cụ thể đối với từng vùng, từng khu vực hạn chế và thứ tự thực hiện đối với từng đối tượng, trường hợp theo quy định của Nghị định này. Không áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất khác với các biện pháp quy định tại Nghị định này;

c) Ưu tiên cho việc cấp nước sinh hoạt, cấp nước phục vụ phòng, chống thiên tai;

d) Thực hiện theo phương án, lộ trình phù hợp được phê duyệt, đảm bảo không gây gián đoạn việc cấp nước.

4. Trường hợp phát hiện việc khoanh định hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất không phù hợp với các tiêu chí quy định của Nghị định này thì phải tạm dừng việc thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất đối với các trường hợp đó để rà soát, điều chỉnh cho phù hợp. Trường hợp gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Đề tài “Nghiên cứu tích hợp các chỉ số sử dụng bền vững tài nguyên nước và đất trong phân bổ nguồn nước vùng Nam sông Hậu” có những ưu thế gì so với các đề tài, dự án trước đây?

There are no translations available.

Trả lời:

Trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã có nhiều đề tài, dự án có chủ đề nghiên cứu liên quan một phần đến chủ đề nghiên cứu của đề tài. Tuy nhiên, sản phẩm nghiên cứu của đề tài có những ưu điểm độc đáo riêng biệt mà các đề tài, dự án nghiên cứu trước đây chưa đạt được, cụ thể như sau:

+ Bộ chỉ số tích hợp sử dụng bền vững tài nguyên nước và đất chuyển giao từ Cộng hòa liên bang Đức, phục vụ phân bổ nguồn nước.

+ Đơn vị thực hiện đề tài cũng chính là đơn vị đã tiến hành các dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước ở vùng nghiên cứu nên có năng lực và nhiều kinh nghiệm trong đánh giá tài nguyên nước, đặc biệt toàn bộ các số liệu, dữ liệu gốc đều chứa đựng trong các kho lưu trữ tài liệu của đơn vị nên việc thu thập tài liệu phục vụ các hạng mục nghiên cứu của đề tài rất dễ dàng. Đơn vị cũng là nơi triển khai các bài toán quy hoạch tài nguyên nước trên toàn quốc trong đó có đồng bằng sông Cửu Long. Bản thân chủ nhiệm đề tài này cũng có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng về chỉ số bền vững, đã có nhiều bài báo công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín trong nước, và có khả năng giao tiếp, cộng tác liên kết nghiên cứu với các đối tác nước ngoài. Điều này giúp cho sản phẩm của đề tài sẽ đạt được chất lượng cao.

- Các đối tác nghiên cứu nước ngoài đều là các nhà khoa học giảng dạy tại các đại học lớn và các công ty công nghệ hàng đầu của Cộng hòa Liên bang Đức, có nhiều kinh nghiệm và đã có các sản phẩm ứng dụng cụ thể ở Việt Nam và Đức. Cụ thể là kinh nghiệm của RIM, ESE trong các vấn đề sử dụng đất, nước (bao gồm nước ngầm, nước mặt) và sử dụng đất, nước thải (xét riêng nước mặt) với công nghệ nền tảng – cơ sở hạ tầng GIS quản lý thống nhất dữ liệu không gian đã và đang được áp dụng ở Cộng hòa Liên bang Đức; các kinh nghiệm của và các luận điểm quy hoạch tích hợp tài nguyên nước – đất đã được đưa vào áp dụng thử nghiệm ở phạm vi thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai thuộc địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong Dự án “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam” của GS. Harro Stolpe (hoàn thành 2013).

Do vậy, có cơ sở để tin tưởng rằng với sự hỗ trợ, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ từ phía Đức và với kinh nghiệm chuyên môn của các đơn vị, cá nhân thực hiện đề tài thì có thể xây dựng được bộ chỉ số sử dụng bền vững tài nguyên đất và nước phục vụ quy hoạch phân bổ nguồn nước cho khu vực Nam sông Hậu.

Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng khi thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ tích hợp đánh giá tài nguyên nước và đất phục vụ Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long” là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Năm 2018, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã triển khai thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ tích hợp đánh giá tài nguyên nước và đất phục vụ Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long”, dự kiến hoàn thành năm 2021. Đề tài được thực hiện với mong muốn phát triển ra một bộ công cụ tích hợp bao gồm cơ sở dữ liệu về hiện trạng, sử dụng tài nguyên nước, đất và các mô hình, công cụ tính toán, đánh giá để giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách có thể đưa ra các quyết sách về sử dụng, quản lý các loại tài nguyên này một cách hài hòa, hợp lý và được thực hiện đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có và nhằm đáp ứng các mục tiêu đề ra, đề tài đã lựa chọn các cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng sau:

Cách tiếp cận:

- Thừa hưởng, tận dụng tối đa các kết quả, số liệu của các đề tài nghiên cứu, dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước - đất đã thực hiện trên vùng nghiên cứu.

- Tận dụng tối đa, sửa chữa, cập nhật, nâng cấp các mô hình, công cụ tính toán, đánh giá tài nguyên nước - đất đã có trên vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chỉ xây dựng mới mô hình, công cụ tính toán trong trường hợp không thể tận dụng được mô hình đã có.

- Phối hợp với các đối tác ngoài nước để tìm hiểu, học hỏi những luận điểm tiên tiến trtong quy hoạch tích hợp tài nguyên nước - đất và công nghệ quản lý dữ liệu không gian Disy Informationssysteme GmbH; sử dụng nhân lực trong nước để tiếp tục phát triển và ứng dụng công nghệ học hỏi được vào mục đích nghiên cứu của đề tài.

Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:

- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu hiện có và điều tra thực địa bổ sung số liệu;

- Phương pháp ứng dụng GIS, mô hình số thủy văn và nước dưới đất: dự kiến sử dụng các gói phần mềm ArcGIS, DHI MIKE, Aquaveo GMS hay/và phần mềm mềm mã nguồn mở IMOD tại trang Web: http://bio3d.colorado.edu/imod/

- Phương pháp phân tích mẫu đất, nước (trong các phòng thí nghiệm trong, ngoài nước) cho mục đích bảo vệ môi trường trong quy hoạch sử dụng tích hợp tài nguyên nước - đất

- Phương pháp thống kê - xác suất

- Phương pháp chuyên gia: học hỏi, tham vấn kinh nghiệm của chuyên gia nước ngoài và trong nước về công nghệ

Tính mới, tính độc đáo, tính sáng tạo:

- Lần đầu xây dựng được bộ công cụ đánh giá tích hợp sử dụng nước - đất phục vụ cho các mục đích quy hoạch tổng thể ĐB SCL, trong đó tích hợp được các mô hình đánh giá sử dụng tài nguyên nước, đất trên cùng một nền tảng quản trị dữ liệu GIS - WebGIS có thể chạy trực tiếp trên máy tính cung cấp dịch vụ (tức là máy tính cài đặt công cụ kèm các mô hình tính toán) hay trên các máy tính khác thông qua Internet.

- Lồng ghép được các luận điểm tiên tiến về quy hoạch tích hợp tài nguyên nước sử dụng đất trong đánh giá mối quan hệ phụ thuộc giữa sử dụng đất - tài nguyên nước, đánh giá biến động tài nguyên và bài toán quy hoạch.

Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung thực hiện của dự án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam” bao gồm những gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Việt Nam là nước có bờ biển dài, trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước thì vai trò kinh tế biển đảo có vị trí đặc biệt quan trọng. Theo suốt tiến trình lịch sử phát triển của đất nước, Nhà nước ta luôn quan quan tâm đến phát triển kinh tế biển đảo nói riêng và đất nước nói chung. Đặc biệt hơn là gắn kết mục tiêu phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển đảo, đảm bảo cuộc sống của nhân dân, Chính phủ ưu tiên đầu tư tìm kiếm, xử lý đảm bảo nguồn nước ngọt cho các đảo. Vì vậy, việc thực hiện giai đoạn II của Đề án 47 với Dự án: “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam” trên 15 đảo được lựa chọn bởi các Bộ ngành được tiếp tục triển khai thực hiện với nhiệm vụ là đảm bảo cấp nước phục vụ dân sinh - kinh tế, an ninh quốc phòng trên các đảo.

Mục tiêu của dự án:

- Đánh giá được chi tiết về số lượng, chất lượng nước dưới đất, nước mặt, làm cơ sở cho việc xây dựng công trình cấp nước cho các đảo trên lãnh thổ Việt Nam.

- Tạo lập các thông tin, dữ liệu và đề xuất phương án khai thác, sử dụng nước trên các đảo nghiên cứu.

Nhiệm vụ của dự án:

- Thu thập, tổng hợp xử lý thông tin, dữ liệu có liên quan đến tài nguyên nước gồm: tài liệu về địa hình, địa chất, địa mạo, kinh tế -xã hội, khí tượng thủy văn, địa chất thủy văn, tài nguyên nước, viễn thám

- Điều tra, khảo sát chi tiết ở tỷ lệ 1:25.000 về số lượng, chất lượng nước dưới đất, nước mặt, nước mưa và hiện trạng khai thác, sử dụng nước trên đảo.

- Đo đạc bổ sung về tài nguyên nước gồm các nội dung chủ yếu sau: đo mưa, đo đạc nguồn nước, đo đạc địa vật lý, khoan thăm dò nước dưới đất, lấy mẫu phân tích chất lượng nước.

- Phân tích, đánh giá tài nguyên nước, đề xuất danh mục các giếng khoan thăm dò có lưu lượng, chất lượng nước đáp ứng yêu cầu khai thác để tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho nhân dân.

Nội dung thực hiện của dự án:

- Tổng hợp, phân tích các tài liệu thu thập, xác định các đối tượng điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất;

- Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước trên các đảo, tìm kiếm, phát hiện các khu vực có triển vọng cung cấp nguồn nước dưới đất;

- Đánh giá trữ lượng, chất lượng, tính toán trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác trên các đảo;

- Xác định khu vực có triển vọng, vị trí xây dựng công trình khai thác nước phục vụ cấp nước cho các đảo nghiên cứu, tổng hợp kết quả điều tra.

Tại sao có 7 tầng chứa nước nhưng chỉ lựa chọn tầng n22 là đối tượng bảo vệ tại đô thị Long Xuyên?

There are no translations available.

Trả lời:

Theo Đề cương Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”, để lựa chọn được đối tượng cẩn bảo vệ thì tầng chứa nước đó phải đáp ứng đủ 5 nguyên tắc đề ra. Cụ thể các nguyên tắc đó là:

- Các tầng chứa nước có các vấn đề về tài nguyên nước dưới đất (cạn kiệt, nhiễm mặn, ô nhiễm, sụt lún).

- Các tầng chứa nước đang khai thác chủ yếu trong vùng;

- Các tầng chứa nước có mức độ chứa nước phong phú, có tiềm năng khai thác lớn.

- Có tốc độ hạ thấp mực nước >0,3m/năm;

- Hiện trạng khai thác vượt quá trữ lượng có thể khai thác.

Áp dụng những nguyên tắc trên cho vùng đô thị Long Xuyên, đối tượng được lựa chọn bảo vệ là tầng chứa nước Pliocen giữa (n22), là do :

- Nước dưới đất ở thành phố Long Xuyên đang xảy ra 2 vấn đề cần bảo vệ là cạn kiệt và nhiễm mặn nước dưới đất, trong đó: Cạn kiệt nước dưới đất chỉ xảy ra đối với tầng chứa nước đang khai thác n22 ; Nhiễm mặn nước dưới đất xảy ra ở tất cả các tầng chứa nước;

- Tầng chứa nước n22 là tầng chứa nước khai thác chủ yếu trong vùng (khoảng 96% tổng lượng khai thác toàn vùng);

7-2bHiện trạng nhiễm mặn và khai thác các tầng chứa nước n22 ở TP. Long Xuyên.

- Các tầng chứa nước nước qh, qp3, qp2-3, qp1 và n21 hầu hết bị mặn, tầng n13 nằm quá sâu và khả năng chứa nước nghèo, các tầng chứa nước này gần như không được khai thác do đó các tầng chứa nước này không chịu ảnh hưởng của hoạt động khai thác nước dưới đất trong vùng, và cũng không phải là các tầng chứa nước có tiềm năng được định hướng khai thác cho tương lai. Chỉ có tầng n22 với diện tích nước nhạt lớn (diện tích nước nhạt chiếm 92% diện tích phân bố tầng chứa nước), được xác định là tầng chứa nước có triển vọng khai thác và đã được đánh giá trong các nghiên cứu trước đây (Năm 1995, Báo cáo tìm kiếm - đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới đất vùng Long Xuyên tỉ lệ 1:50.000 đã chỉ ra tầng chứa nước có triển vọng khai thác nước là tầng Pliocen giữa (n22); Năm 2008, Báo cáo Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỉnh An Giang tỉ lệ 1:50.000 đã xác định tầng chứa nước lỗ hổng n22 có khả năng khai thác lớn, có thể xây dựng các nhà máy nước ngầm công suất lớn hơn 3.000m3/ngày tới 10.000m3/ngày tại một số khu vực ở TP. Long Xuyên, phía nam huyện Chợ Mới).

- Ở TP. Long Xuyên chỉ có 1 công trình quan trắc Q408020 thuộc mạng quan trắc quốc gia, quan trắc trong vùng nước mặn của tầng qp3, kết quả quan trắc mực nước tại công trình này chưa cho thấy có dấu hiệu suy giảm cũng như hạ thấp mực nước quá mức. Công trình này quan trắc trong vùng nước mặn của tầng qp3 do đó chưa phản ánh được diễn biến nước dưới đất do tác động của hoạt động khai thác nước dưới đất.

- Hiện trạng khai thác trong tầng n22 ở TP. Long Xuyên vượt quá trữ lượng có thể khai thác theo kết quả tính trữ lượng có thể khai thác tầng thuộc Dự án: “Biên hội – Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc” đã được phê duyệt.

Như vậy, theo tất cả các nguyên do trên, bảo vệ tầng chứa nước Pliocen giữa (n22) là đối tượng hoàn toàn phù hợp cho vùng đô thị Long Xuyên, để có thể hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra của đề án.