Thu10212021

Last update06:36:07 AM GMT

Hỏi - Đáp

Những thuận lợi, khó khăn, thách thức gặp phải khi thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000 vùng Bắc Sông Tiền”là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Dự án được thực hiện trên phần diện tích của các tỉnh, thành: Tiền Giang, Đồng Tháp, Long An và Tp. Hồ Chí Minh. Quá trình thực hiện, dự án sẽ đối mặt với các vấn đề sau:

Những thuận lợi

- Vùng có điều kiện ĐCTV rất phức tạp, nhiều nơi thông tin về tài nguyên nước dưới đất không có hoặc độ tin cậy không cao.

- Điều kiện tự nhiên và mức độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, địa hình phân cắt mạnh nên điều kiện thi công sẽ khó khăn cho một số nơi.

- Đây là vùng có tốc độ công nghiệp và đô thị hoá rất cao nên nhu cầu khai thác sử dụng nước nói chung và NDĐ nói riêng ngày càng cao.

Những khó khăn

- Toàn vùng có một số khu vực đã được đầu tư một số đề án và dự án về địa chất và ĐCTV do Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam thực hiện.

- Một số nơi đã sử dụng vốn địa phương để đầu tư một số đề tài dự án nghiên cứu về địa chất, ĐCTV và tài nguyên nước.

- Các chương trình và dự án về cấp nước nông thôn bao trùm lên nhiều nơi trong vùng sẽ là những thông tin cần thiết cho dự án.

- Hoạt động khai thác NDĐ trong vùng phát triển nhiều nơi cũng là nguồn tài liệu chuyên môn cần quan tâm.

- Tài nguyên NDĐ trong vùng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội nên được các cấp thẩm quyền quan tâm.

- Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường cho nông thôn là một trong những chủ trương lớn của Nhà nước không chỉ trong vùng nghiên cứu mà còn bao trùm lên cả nước (Chương trình nước sạch và vệ sinh môi nông thôn của Chính phủ).

- Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam có đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm về vùng nghiên cứu và một số thiết bị nghiên cứu hiện đại hỗ trợ.

- Bên cạnh đó, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước còn có quan hệ với các tổ chức nước ngoài quan tâm về tài nguyên NDĐ đó sẽ là thuận lợi đáng kể trong quá trình thực hiện dự án.

Những thách thức

- Dự án được sự quan tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và bảo vệ bền vững nguồn nước dưới đất vùng Bắc sông Tiền, do đó đòi hỏi kết quả thực hiện dự án phải có tính thuyết phục cao về chuyên môn và ứng dụng hiệu quả trong thực tế (công tác quản lý tài nguyên NDĐ), đặc biệt là phải dàn trải trong toàn vùng nghiên cứu.

- Trong điều kiện hạn chế về kinh phí nhưng lại phải đầu tư nghiên cứu nhằm giải quyết nhiều vấn đề sẽ là khó khăn thực sự cho đơn vị thực hiện. Do đó, cần thiết phải các nội dung và phương pháp nghiên cứu, phải được chọn lựa dựa theo nguyên tắc hiệu quả và giá thành đầu tư.

- Trong vùng nghiên cứu đã có một số đề tài, dự án đã và đang thực hiện của các đơn vị và tổ chức khác nhau, do đó cần phải thiết lập các mối quan hệ trao đổi thông tin lẫn nhau để cùng đạt hiệu quả cao nhất và giảm thiểu kinh phí thực hiện cho đôi bên.

Những thuận lợi, khó khăn gặp phải khi thực hiện Dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao,vùng khan hiếm nước”tỉnh Lạng Sơn là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Khó Khăn

Qua thực tế thi công điều tra, đánh giá tài nguyên nước tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước chúng tôi rút ra một số vấn đề cần giải quyết cho các vùng thi công giai đoạn tiếp theo như sau:

- Tỉnh Lạng Sơn là tỉnh thuộc vùng núi cao nên giao thông đi lại khó khăn;

- Một số vùng có cấu trúc địa chất phức tạp, có rất nhiều hang karst dạng hang treo, hang bùn không chứa nước.

- Nguồn vốn ngân sách cấp không đáp ứng tiến độ thi công theo Quyết định phê duyệt dự án nên tiến độ còn chậm.

Thuận lợi

+ Dự án được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Trung Tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia trong quá tình triển khai thực hiện dự án.

+ Chủ nhiệm hợp phần dự án theo sát và nắm chắc mục tiêu nhiệm vụ dự án. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra các đơn vị thi công ngoài thực địa cũng như công tác văn phòng, đề xuất việc thi công, ngừng thi công một cách hợp lý.

+ Lãnh đạo Trung tâm, các phòng ban chuyên môn của Trung tâm luôn theo dõi, chỉ đạo sát sao trong quá trình thi công, quyết định điều chỉnh khối lượng các dạng công tác phù hợp với điều kiện của vùng nghiên cứu, đảm bảo mục đích nghiên cứu dự án và chất lượng sản phẩm.

+ Lực lượng cán bộ kỹ thuật, công nhân trực tiếp thực hiện dự án có trình độ chuyên môn tốt, có nhiều kinh nghiệm trong thi công; máy móc thiết bị được chuẩn bị tốt.

Để đạt được mục tiêu đề ra, Đề tài “Nghiên cứu xác định các thành phần trong cân bằng nước và lượng nước có thể phân bổ cho các nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực sông” đã lựa chọn cách tiếp cận nào?

There are no translations available.

Trả lời:

Đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác định các thành phần trong cân bằng nước và lượng nước có thể phân bổ cho các nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực sông" do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia chủ trì thực hiện từ năm 2018, chủ nhiệm đề tài là ThS. Tống Thanh Tùng. Để giải quyết được mục tiêu là đề xuất được cơ sở khoa học và thực tiễn các thành phần trong cân bằng nước lưu vực sông; xây dựng được bộ tiêu chí phân bổ nguồn nước theo không gian và thời gian và áp dụng thử nghiệm trên thượng lưu sông Đáy từ đập Vân Cốc đến sau nhập lưu sông Bùi, đề tài lựa chọn cách tiếp cận sau:

1. Tiếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn diện và tổng hợp

Đối tượng nghiên cứu của đề tài ở đây là các thành phần trong cân bằng nước trên lưu vực sông như lượng lũ không thể kiểm soát được, lượng nước đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho ăn uống sinh hoạt, lượng bổ cập của nước mưa cho nước dưới đất, tương tác giữa nước mặt với nước dưới đất, lượng nước dưới đất có thể khai thác, sử dụng... là rất phức tạp đòi hỏi phải tiếp cận thực tiễn, xây dựng mô hình thực nghiệm nghiên cứu ngoài hiện trường, lập các phiếu điều tra dân sinh xã hội... một cách toàn diện và tổng hợp hệ thống mới đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra.

2. Tiếp cận kế thừa

Lưu vực nghiên cứu là thượng lưu sông Đáy từ đập Vân Cốc đến sau nhập lưu sông Bùi đã có nhiều nghiên cứu điều tra, đánh giá tài nguyên nước, tính toán cân bằng nước. Đó là những kết quả vô cùng quý giá, là kết quả của bao thế hệ đã dày công nghiên cứu, đầu tư về sức lực, trí tuệ và vật chất rất đáng trân trọng. Do đó trong cách tiếp cận này sẽ:

- Tổng hợp lý thuyết và thực tiễn kế thừa các phương pháp phù hợp để xây dựng phương pháp luận về cơ sở khoa học xác định các thành phần trong cân bằng nước lưu vực sông;

- Xây dựng bộ tiêu chí phân bổ nguồn nước theo không gian và thời gian trên lưu vực sông.

3. Tiếp cận về phương pháp nghiên cứu

Tôn trọng và sử dụng có xem xét các phương pháp nghiên cứu truyền thống, nắm chắc và vận dụng tốt các phương pháp và công cụ nghiên cứu mới nhằm đưa ra các kết quả tính toán đầy đủ và tin cậy nhất.

4. Tiếp cận với các nhà khoa học, các chuyên gia

Để có kết quả nghiên cứu tốt nhất thì sự góp ý của các nhà khoa học, các chuyên gia là những đóng góp quý báu nhằm hoàn thiện đề tài này. Vì vậy cần tranh thủ tiếp cận với các nhà khoa học có nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu, các chuyên gia và nhà quản lý có kinh nghiệm thực tế liên quan đến lĩnh vực đề tài.

Những phương pháp nào được sử dụng khi thực hiện công tác điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất tại đảo Thanh Lân?

There are no translations available.

Trả lời:

Các phương pháp được sử dụng khi thực hiện công tác điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất tại đảo Thanh Lân:

1. Công tác điều tra, khảo sát thực địa tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/10.000

Khoanh định ranh giới các tầng chứa nước, các thành tạo địa chất không chứa nước hoặc chứa nước kém, sơ bộ xác định số lượng, chất lượng, hiện trạng sử dụng và nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất trên đảo. Phát hiện, khảo sát các nguồn lộ tự nhiên nước dưới đất và các yếu tố liên quan đến việc đánh giá tiềm năng nước dưới đất. Xác định sơ bộ vị trí lỗ khoan, các tuyến địa vật lý, các nguồn lộ, giếng đào để chọn hút nước thí nghiệm.

Công tác điều tra, khảo sát thực địa đã xác định được sự có mặt của các tầng chứa nước qh, o3-s1, xác định sơ bộ khả năng chứa nước, hiện trạng khai thác sử dụng nước của các tầng chứa nước thông qua các điểm khảo sát nước dưới đất (nguồn lộ, lỗ khoan, giếng đào).

Công tác khảo sát cũng xác định được các vị trí triển vọng đáp ứng yêu cầu bố trí tuyến đo địa vật lý xác định lỗ khoan nghiên cứu trong địa tầng O3-S1ct.

hthd-12Điểm khảo sát giếng đào ĐTL.75

2. Công tác địa vật lý: Xác định chiều dày các tầng chứa nước Đệ tứ, các đới nứt nẻ, bề dày các đới nứt nẻ có khả năng chứa nước để khoanh định phạm vi có triển vọng chứa nước nhạt, làm cơ sở cho việc lựa chọn vị trí và thiết kế lỗ khoan địa chất thủy văn; Xác định điều tra đánh giá quy mô các khu vực có triển vọng cung cấp nước ngầm phục vụ cho công tác xây dựng công trình cấp nước sạch cho Đảo.

3. Công tác khoan, khai đào: Nhằm nghiên cứu đặc điểm địa chất thủy văn của đất đá theo chiều sâu, xác định thành phần thạch học, đánh giá khả năng chứa nước của tầng nghiên cứu; Kết cấu lỗ khoan phục vụ cho hút nước thí nghiệm, quan trắc mực nước.

4. Công tác bơm hút nước thí nghiệm

4.1. Công tác bơm hút nước thí nghiệm lõ khoan

Giúp làm sạch mùn, dung dịch khoan, các vật chất lấp nhét trong các lỗ hổng, khe nứt của đất đá và khe hở của ống lọc. Khôi phục điều kiện tự nhiên của tầng chứa nước, làm cho nước vận động ổn định vào lỗ khoan, sơ bộ xác định lưu lượng và mực nước hạ thấp làm cơ sở cho thiết kế hút thí nghiệm.

Xác định tính thấm và khả năng chứa nước của tầng chứa nước, lấy các loại mẫu phân tích chất lượng nước.

4.2. Hút nước thí nghiệm điểm lộ, giếng đào

Hút nước thí nghiệm tại các giếng của dân nhằm xác định tính thấm và khả năng chứa nước của tầng chứa nước, lấy các loại mẫu phân tích chất lượng nước phục vụ đánh giá tài nguyên nước dưới đất.

5. Lấy và phân tích mẫu nước dưới đất: Công tác lấy và phân tích mẫu nhằm xác định thành phần hóa học và vi sinh của nước dưới đất phục vụ cho đánh giá hiện trạng và sự biến đổi chất lượng nước

6. Đổ nước thí nghiệm hố đào: Nhằm xác định hệ số thấm của đất đá phục vụ cho tính toán lượng nước mưa thẩm thấu bổ cập cho nước dưới đất trong đới thông khí.

7. Công tác trắc địa: Chỉnh biên nền địa hình cho phù hợp với thực tế. Đo công trình chủ yếu và thứ yếu đưa lên bản đồ địa hình 1:10.000

8. Công tác quan trắc động thái nước dưới đất: Quan trắc sự biến đổi về mực nước, nhiệt độ của nước dưới đất trong các tầng chứa nước.

Quy trình thành lập các bản đồ hạ thấp mực nước được tiến hành theo các bước như thế nào?

There are no translations available.

Trả lời:

Việc phân tích đánh giá hiện trạng và diễn biến phễu hạ thấp mực nước dưới đất được tiến hành trên cơ sở thành lập các bản đồ hạ thấp mực nước theo tài liệu quan trắc mực nước từng tháng mùa khô và mùa mưa (được lấy theo giá trị trung bình tháng) từ của các trạm quan trắc thuộc mạng quan trắc nước dưới đất quốc gia (do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý vận hành) và địa phương (do Chi cục Bảo vệ Môi trường các tỉnh, thành phố quản lý và vận hành).

Quy trình thành lập các bản đồ hạ thấp mực nước được tiến hành theo trình tự các bước như sau:

Bước 1: Số liệu quan trắc từ các trạm được làm trung bình theo từng tháng và được tổ chức trong cơ sở dữ liệu MS Excel với các hàng là số hiệu lỗ khoan quan trắc và cột là giá trị mực nước trung bình của từng tháng.

Bước 2: Tổ chức cơ sở dữ liệu trên phần mềm ArcGIS dựa trên cơ sở dữ liệu MS Excel. Trong đó, thông tin về lỗ khoan, mạng quan trắc và tầng chứa nước quan trắc được chứa trong các trường dữ liệu LKQT, CNT_QT và TCN_QT, các trường dữ liệu 1_00, 2_00 ... chứa dữ liệu hạ thấp mực nước quan trắc trung bình tháng của các tháng 1 năm 2000, 2 năm 2000, v.v. Những tháng không có dữ liệu quan trắc được gán giá trị -9999 (hình 3.1).

Bước 3: Sử dụng bộ công cụ Spatial Analyst Tools => Interpolation => Topo to Raster tích hợp sẵn trong phần mềm ArcGIS để tạo bản đồ raster (ô lưới) bề mặt hạ thấp mực nước cho từng tầng chứa nước đối với từng tháng như trong hình minh họa dưới đây. Công cụ này sử dụng thuật toán (chương trình) ANUDEM của Michael Hutchinson (1988, 1989) để tạo bản đồ raster bề mặt hạ thấp mực nước chuẩn xác hơn so với các thuật toán khác (Inversed Distance Weighted – IDW, Kriging, Natural Neighbor, hay Spline) trong điều kiện các lỗ khoan quan trắc ở Hà Nội phân bố với mật độ không đều (dày đặc ở phần trung tâm và thưa ở phần rìa).

Bước 4: Sử dụng bộ công cụ Surface => Contour tích hợp sẵn trong phần mềm ArcGIS để tạo các đường đẳng hạ thấp mực nước dựa trên bản đồ raster bề mặt hạ thấp mực nước đã tạo được ở bước 3.

Bước 5: Chuyển các bản đồ raster bề mặt và các đường đẳng hạ thấp mực nước sang phần mềm MapInfo để biên tập bản đồ sản phẩm.

Dựa trên bản đồ hạ thấp mực nước được tạo nên chúng tôi tiến hành phân tích và đánh giá phát triển phễu hạ thấp mực nước của từng tầng chứa nước theo thời gian và theo diện tích phân bố.

Hiện nay có những phương pháp phân bổ nguồn nước nào được sử dụng?

There are no translations available.

Trả lời:

Hiện nay có 03 phương pháp phân bổ nguồn nước được sử dụng trong công tác quy hoạch tài nguyên nước:

1. Phân bổ theo không gian

Phân bổ nguồn nước theo không gian là phân bổ nước cho các tiểu vùng, tiểu lưu vực sông( LVS) trong một LVS, phân bổ nước cho các tỉnh trong LVS liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh.

Để thực hiện phân bổ nguồn nước theo không gian thì các con sông cần được phân ra thành các đoạn sông và xác định các điểm khống chế lượng nước đến, các điểm kiểm soát về lưu lượng, mực nước của các đoạn sông đó. Trên cơ sở đó, tính toán lượng nước đến, lượng nước khai thác sử dụng mà các đoạn sông đó cung cấp. Từ đó, tính toán lượng nước có thể phân bổ và lượng nước phân bổ của từng đoạn sông.

2.Phân bổ theo thời gian

Phân bổ nguồn nước theo thời gian là phân bổ nước theo các thời đoạn thời gian (trung bình cả năm, trung bình mùa kiệt, trung bình tháng) và tại từng thời điểm trong năm. Trong thực tế, nhu cầu sử dụng nước của một số ngành thường thay đổi trong năm. Chẳng hạn, nhu cầu tưới lúa vụ đông xuân thường cần rất nhiều nước cho giai đoạn đổ ải, tức là cần nước để làm đất vào thời gian khoảng tháng giêng dương lịch đối với các vùng ở đồng bằng Bắc bộ. Như vậy, ngoài việc phân bổ nước tưới cho cả mùa kiệt, cần thiết phải tính toán phân bổ theo từng tháng, thậm chí cho từng thời đoạn 10 ngày.

Khi tính toán lượng nước có thể phân bổ cho mùa kiệt, cần lưu ý rằng ngoài lượng nước đến theo tần suất của dòng sông còn có lượng nước lũ được tích trữ lại các hồ chứa để dùng trong mùa kiệt. Lượng nước hiệu dụng củacác hồ chứa có thể được sử dụng để điều tiết, phân bổ tại từng thời điểm trong mùa kiệt cho các nhu cầu nước thay đổi khác nhau.

3. Phân bổ nguồn nước sông liên tỉnh

Đối với các nguồn nước liên tỉnh lớn, chảy qua nhiều tỉnh như sông Hồng, sông Đồng Nai, việc phân bổ nguồn nước cần được thực hiện như sau:

Phân bổ nguồn nước dọc sông cho từng tỉnh, từng tiểu vùngtrước khi phân bổ nước cho các ngành sử dụng nước của từng tiểu vùng:

Mỗi tỉnh sẽ có lượng nước được phân bổ là WtA, WtB, WtC;

Tổng lượng nước được phân bổ cho các tỉnh A, B, C là lượng nước có thể phân bổ của cả nguồn nước:W = WtA + WtB+ WtC

Trong phạm vi mỗi tỉnh, chẳng hạn tỉnh A, lượng nước phân bổ WtA sẽ được phân bổ cho các ngành, các đối tượng dùng nước trên địa bàn của tỉnh;

 

hdht-11Phân bổ trong tình huống đủ nước

 

hdht-11-2 Phân bổ trong tình huống thiếu nước

Trong tình huống đủ nước (100%): Lượng nước cấp cho các địa phương bảo đảm 100% nhu cầu nước của họ.

Trong tình huống thiếu nước (75%): Lượng nước cấp cho các địa phương chỉ bảo đảm 75 % nhu cầu nước của họ;.