Wed01202021

Last update10:29:34 PM GMT

Đánh giá khả năng nguồn nước lưu vực sông Sêrêpôk dựa trên bộ chỉ số

There are no translations available.

Để đánh giá khả năng nguồn nước mặt cho lưu vực sông Sêrêpôk, từ các kết quả tính toán được và đem ra đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá cho từng chỉ số, giúp xem xét đánh giá khả năng nguồn nước mặt cho lưu vực sông này. Với từng loại chỉ số sẽ cho những đánh giá khác nhau về những khía cạnh khác nhau, tuy nhiên tổng hợp tất cả các chỉ số thành phần trong bộ chỉ số đều giúp đánh giá một cách tổng quan về khả năng nguồn nước mặt cho lưu vực sông.

Khả năng đáp ứng số liệu đầu vào phục vụ đánh giá tài nguyên nước mặt bằng mô hình Swat trên các sông đặt trạm

There are no translations available.

Mô hình SWAT mô phỏng hiện tượng KTTV xảy ra trên lưu vực, việc tính toán mưa rào-dòng chảy là kết quả của một hiện tượng này. Để tính toán chính xác chuyển động của hoá chất, bùn cát hay các chất dinh dưỡng, chu trình thuỷ văn phải được mô phỏng phù hợp với những gì xảy ra trên lưu vực. Chu trình thủy văn trên lưu vực có thể chia thành hai pha:

Phương pháp xác định lượng nước mặt có thể phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong Quy hoạch tài nguyên nước

There are no translations available.

Tại Việt Nam công tác nghiên cứu, quản lý và sử dụng bền vững nguồn TNN mới bắt đầu được thực hiện trong những năm gần đây bằng các quy hoạch chuyên ngành liên quan như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch phòng chống lũ, quy hoạch thủy điện, quy hoạch cấp nước ....Đối với công tác phân bổ tài nguyên nước trong Quy hoạch tài nguyên nước nhìn chung đã đề suất được một số nguyên tắc ưu tiên và thứ tự ưu tiên cấp nước cho các ngành dùng nước chủ yếu là: Sinh hoạt, Công nghiệp, Nông nghiệp và Môi trường và đưa ra tỷ lệ cấp nước cho các ngành dùng nước. Tuy nhiên các quy hoạch đó đều chưa có cơ sở xác định lượng nước mặt có thể phân bổ trước khi đem phân bổ cho các ngành dùng nước.

Tính toán và phân cấp trữ lượng nước dưới đất trong môi trường đá gốc nứt nẻ

There are no translations available.

Ở Việt Nam, cách tính và quan điểm tính toán trữ lượng đối với đất đá bở rời về trữ lượng khai thác chủ yếu tập trung vào trữ lượng động tự nhiên và có thể sử dụng một phần trữ lượng tĩnh tự nhiên của tầng chứa nước. Tuy nhiên đối với đá cứng, nguồn hình thành trữ lượng chủ yếu là trữ lượng động tự nhiên, phần trữ lượng tĩnh rất nhỏ. Do vậy, khi thiết kế điều tra, tính toán các thông số địa chất thuỷ văn và bơm hút nước thí nghiệm hạn chế tối đa việc xâm phạm vào phần trữ lượng tĩnh tự nhiên này. Khi trữ lượng tĩnh tự nhiên trong đá cứng nứt nẻ bị xâm phạm sẽ ảnh hưởng lớn đến dòng chảy ngầm tối thiểu, làm cạn kiệt, suy thoái tài nguyên nước dưới đất.

Xây dựng danh mục các nguồn nước dưới đất trên các lưu vực sông ở Việt Nam

There are no translations available.

Các lưu vực sông ở Việt Nam cũng như trên nhiều nước có phạm vi phân bố các nguồn nước mặt thường không trùng với phạm vi phân bố các nguồn nước dưới đất nên việc đánh giá tổng tài nguyên nước, các nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước cụ thể trong một lưu vực sông sẽ là vấn đề không dễ giải quyết khi xác định các nguồn nước tham gia vào lưu vực sông đó. Xây dựng danh mục các nguồn nước dưới đất trong các lưu vực sông vì vậy là một công việc rất cấp thiết.

Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng tiêu chí đặt trạm quan trắc tài nguyên nước mặt

There are no translations available.

Quan trắc tài nguyên nước là một trong những nhiệm vụ của công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước. Số liệu quan trắc tài nguyên nước (về số lượng, chất lượng của tài nguyên nước mặt) và là cơ sở để phản ánh đầy đủ, hoàn thiện và chính xác hơn bức tranh về tiềm năng, diễn biến số lượng, chất lượng của vùng nghiên cứu, hỗ trợ chiến lược, sách lược bảo vệ tài nguyên nước, giúp hoàn thiện quy hoạch phát triển bảo vệ và quản lý các nguồn nước, làm giảm nhẹ nguy cơ nhiễm bẩn, cạn kiệt và phòng tránh những tác động tiêu cực của nước đến môi trường sinh thái, phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch khai thác sử dụng nước.