NAWAPI

bannerTT_2

Thu05192022

Last update10:59:07 PM GMT

Phát huy tác dụng chữa bệnh của nước khoáng radon

There are no translations available.

Gần 10 năm trước, qua công tác thăm dò, Liên hiệp Khoa học sản xuất địa chất nước khoáng (thuộc Tổng hội Địa chất VN) đã phát hiện được một nguồn nước khoáng radon tại huyện Thanh Thủy (Phú Thọ). Đây là tin vui cho giới khoa học về nước khoáng và y học thủy trị liệu nước ta. Ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của việc phát hiện này nhìn từ góc độ địa chất y học là vấn đề được các nhà khoa học thuộc Hội Địa chất thủy văn VN và Liên hiệp Khoa học sản xuất địa chất nước khoáng đề cập trong một Hội thảo khoa học mới đây.

Trong bảng phân loại nước khoáng VN đến cuối thế kỷ XX còn có một khoảng trống khiến các nhà địa chất thủy văn luôn băn khoăn, day dứt. Đó là sự thiếu vắng loại nước khoáng radon. Điều đó không có nghĩa cấu tạo địa chất thiếu những tiền đề cho sự thành tạo loại nước khoáng này mà chính là do chưa được đầu tư nghiên cứu đầy đủ.

Chính vì vậy, việc phát triển nguồn nước khoáng Thanh Thủy (Phú Thọ) là một đóng góp quan trọng vào sự phát triển nguồn tài nguyên nước khoáng ở nước ta. Về mặt khoa học, nó khẳng định sự có mặt nước khoáng radon, xóa đi một khoảng trống lâu nay trong bảng phân loại nước khoáng VN về loại nước khoáng này, mở đường cho sự tìm kiếm những nguồn nước khoáng radon trong điều kiện địa chất thủy văn tương tự, mà theo dự đoán có khả năng tồn tại ở nhiều nơi khác trên toàn quốc.

s10

Khoan thăm dò nước khoáng nóng tại Thanh Thủy

 

Về nguồn gốc và sự thành tạo mỏ nước khoáng radon Thanh Thủy, với mức độ nghiên cứu hiện tại chưa thể đưa ra một nhận định có cơ sở khoa học vững chắc, song theo quy luật chung có thể dự đoán nước khoáng được hình thành từ dưới sâu, trong điều kiện nhiệt độ và áp suất lớn, trong những thành tạo địa chất giàu khoáng vật phóng xạ. Sau đó, nước theo các đứt gãy kiến tạo đi lên, trong đó quan trọng nhất có lẽ là đứt gãy F2 chạy dọc đê sông Đà theo phương Tây Bắc - Đông Nam và đứt gãy F1 chạy theo phương Đông Bắc - Tây Nam cắt qua trung tâm mỏ. Chính nơi giao nhau giữa hai đứt gãy này là kênh dẫn nước khoáng từ dưới sâu đi lên, tiêm nhập vào các trầm tích phủ bên trên và tàng trữ trong các lỗ hổng của đất đá, hình thành nên một "mũ nấm" hình tam giác thấy rõ trên bản đồ. Trong quá trình khai thác mỏ, "mũ nấm" có thể thay đổi hình dạng và chất lượng, trữ lượng nước khoáng chứa trong đó cũng thay đổi theo nếu không có chế độ khai thác hợp lý và biện pháp bảo vệ chặt chẽ.

Về mặt thực tiễn, đây là loại nước khoáng có giá trị sử dụng vào mục đích y học rộng rãi và phục vụ sức khỏe cộng đồng. Vì vậy để phát huy thành quả đạt được, trong thời gian tới, các nhà khoa học mong các cơ quan quản lý và khoa học hữu trách quan tâm thúc đẩy điều tra một cách có hệ thống nguồn tài nguyên quý giá này về mặt địa chất cũng như y học và sớm đưa nó vào khai thác sử dụng, đồng thời với các loại nước khoáng vốn rất phong phú và đang được sử dụng có hiệu quả tại các trung tâm điều dưỡng - du lịch hiện có nhằm tạo cơ sở phát triển ngành y học thủy liệu pháp nước khoáng ở nước ta.

Riêng đối với nguồn nước khoáng radon Thanh Thủy, cần tiếp tục thăm dò chi tiết để đánh giá chính xác chất lượng, trữ lượng vùng mỏ. Trong thăm dò cần có những công trình khoan sâu đến tận đá gốc (trên 100m). Chú ý phân tích đầy đủ Rn và các yếu tố đặc hiệu khác. Đồng thời cần tiến hành việc nghiên cứu lâm sàng cẩn thận để tìm hiểu tác dụng chữa bệnh của nước khoáng radon nhằm định hướng sử dụng tối ưu nguồn nước. Cần sớm có sự can thiệp của các cơ quan quản lý tài nguyên khoáng sản và y tế cộng đồng cùng với chính quyền địa phương để sớm lập lại trật tự trong hoạt động dịch vụ tắm nước khoáng một cách tự phát hiện nay, tổ chức hướng dẫn khoa học để hoạt động này có hiệu quả, tránh những thiệt hại có thể xảy ra.

 

(Theo Bình Nguyên - Monre)

"Xanh hóa" khí CO2

There are no translations available.

Với công nghệ mới của các nhà khoa học Singapore, CO2 sẽ thành hợp chất có ích cho ngành công nghiệp dược - Ảnh: NanoweCác nhà khoa học tại Viện Công nghệ sinh học và công nghệ nano Singapore (IBN) vừa biến điều “không thể thành có thể” khi phát triển một công nghệ xanh giúp chuyển hóa carbon dioxide (CO2) thành hợp chất có ích dùng trong ngành công nghiệp dược và hóa chất.

Tân Hoa xã dẫn nguồn tin từ Cơ quan khoa học, công nghệ và nghiên cứu của Chính phủ Singapore (A* STAR) cho biết công nghệ trên cho phép CO2 chuyển hóa thành các axit propiolic.

Các axit này là nền tảng tạo ra một hợp chất được ngành công nghiệp dược dùng để chế tạo thuốc hạ cholesterol, phân tử tổng hợp peptidomimetic và các chất ức chế phân tử khác, chẳng hạn để tiêu diệt tế bào ung thư.

“Công nghệ của chúng tôi là cơ sở để tạo ra các hóa chất đặc biệt, các loại thuốc an toàn và rẻ tiền. Đây là bước đột phá trong ngành công nghiệp dược và hóa chất, đồng thời đưa Singapore vươn lên vị trí hàng đầu trong nghiên cứu hóa học xanh”, giáo sư Jackie Y. Ying - giám đốc điều hành IBN, phát biểu với Nanowerk News.


(Theo TTO)

Dùng "nước ảo" để quản lý nước thật

There are no translations available.

2Phương pháp tính toán lượng nước cần thiết để làm ra thực phẩm và hàng tiêu dùng mang tên "Nước ảo" đã đem về cho nhà khoa học người Anh John Anthony Allan giải thưởng Nước Stockholm 2008.
Để có được một cân gạo trắng ngần, ta phải sử dụng tới 3.400 lít nước; một cốc cà phê tiêu tốn 140 lít nước; một chiếc áo coton ngốn 4.100 lít nước... Lượng nước này gọi là "nước ảo". Tiết kiệm nước chính từ việc quản lý sản xuất, xuất nhập khẩu  hàng hóa.

Khái niệm "nước ảo" được nhà khoa học người Anh John Anthony Allan giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1988. Khi đó người ta coi đây là một kiểu tính toán con nít. Song khi biến đổi khí hậu gây ra khan hiếm nước ngày càng trầm trọng, khái niệm "nước ảo" thực sự hữu ích trong quản lý tài nguyên nước.

Theo GS. John Anthony Allan, "nước ảo" không phải là lượng nước tồn tại trong sản phẩm mà là nước được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm. Và theo các tính đó, GS. John Anthony Allan đã đưa ra những con số giật mình. Như để làm ra một chiếc bánh hamburger phải tiêu tốn 2.400 lít nước từ việc trồng lúa mì, xay bột, làm nhân bánh, trồng rau… để có 1 ký thịt bò, phải cần đến 15.340 lít nước. Bởi trong ba năm nuôi một con bò cho 200kg thịt, nó đã ăn đến 1.300kg ngũ cốc (lúa mì, bắp, đậu nành, lúa mạch…) và 7.200kg cỏ. Để sản xuất lượng ngũ cốc và cỏ đó phải cần đến ba triệu lít nước. Lại còn cần thêm 24.000 lít nước cho con bò uống và 7.000 lít cho các hoạt động chăm sóc khác dành cho con bò. Chiếc khăn giấy dùng một lần nặng 75g mà chứa tới 810 lít nước ảo hay chiếc xe chở khách 1,1 tấn cần 400.000 lít nước...

Nhờ lý thuyết "nước ảo", người ta phát hiện những nước như Mỹ, Argentina và Brazil xuất khẩu hàng tỉ mét khối nước trong khi các nước như Nhật, Ai Cập và Italia lại nhập hàng tỉ mét khối nước mỗi năm.

Nói là "ảo" song trong quá trình sản xuất, người ta đều lấy nước thật từ lòng đất, sông hồ… "Ảo" chỉ ở góc độ không nhìn thấy trong sản phẩm. Khái niệm này có ý nghĩa đặc biệt quan trong khi đặt nó trong thị trường nước và giao dịch nước ảo.

Nhà khoa học Nguyễn Thị Phương, Phân viện Khí tượng thủy văn và Môi trường phía Nam cho biết, cần hiểu sự giao dịch "nước ảo" chính là trao đổi những hàng hóa mang trong mình "nước ảo", như lương thực, thực phẩm, quần áo, giày dép, nông sản...

Bà Phương giải thích, nếu một quốc gia nhập khẩu lúa mì thay vì tự sản xuất thì quốc gia đó tiết kiệm được 1.300 m3 nước thật. Nếu quốc gia đó khan hiếm nước thì họ có thể dùng lượng nước "tiết kiệm" được do nhập khẩu lúa mì để dùng cho các mục đích khác cần thiết hơn. Chính vì vậy trao đổi nguồn nước ảo là một phương tiện có thể khắc phục tình trạng thiếu nước ở một số quốc gia. Việc buôn bán nước ảo có thể tạo ra sự cân bằng về tiêu dùng nước giữa các quốc gia.

Theo bà Phương, nhu cầu nước của nước ta ngày càng lớn trong khi nguồn nước của chúng ta không dồi dào, phụ thuộc nhiều từ các sông quốc tế. Bởi thế, lý thuyết "nước ảo" có thể góp phần vào việc điều tiết nguồn nước ở tầm vĩ mô.

Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu lúa lương thực dẫn đầu thế giới nghĩa là đã xuất đi một lượng nước rất lớn. Việc xuất khẩu đã giúp ta thu nguồn lợi lớn về kinh tế và giúp ổn định an ninh lương thực thế giới. "Về lâu dài, cần xem xét việc quy hoạch sản xuất phù hợp với nguồn nước ở khu vực, từng địa phương mang tính vĩ mô cả nước", bà Phương đề nghị.


(Theo BTNMT)

Nâng cấp hệ thống báo tin động đất và sóng thần

There are no translations available.

cucnuoc6Viện Vật lý Địa cầu - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đang triển khai Dự án nâng cấp mạng lưới quan trắc động đất ra toàn lãnh thổ và hải đảo của Việt Nam.

Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang thực hiện giai đoạn đầu Dự án xây dựng hệ thống trạm trực canh sóng thần tại các địa phương ven biển và hải đảo.

Mục tiêu của Dự án nâng cấp mạng lưới quan trắc động đất là tăng số lượng trạm địa chấn từ 24 lên 36 trạm, thực hiện từ năm 2009-2012, trong đó, các trạm được trang bị máy ghi địa chấn dải rộng và vận hành tự động, các dữ liệu động đất, thời gian thực sẽ được truyền trực tiếp về Viện Vật lý Địa cầu qua vệ tinh/internet.

Dự án xây dựng hệ thống trạm trực canh sóng thần với sự tham gia của Bộ Quốc phòng, Viện Vật lý Địa cầu và nhiều cơ quan khác.

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của dự án là xây dựng khoảng 100 tháp báo thiên tai sử dụng hệ thống đèn, còi phục vụ công tác cảnh báo đa thiên tai trong đó có sóng thần tại các địa phương ven biển và hải đảo của Việt Nam.

Từ tháng 4 đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã xảy ra 8 trận động đất giao động từ 2,3-4,7 độ Richter nhưng đều không gây thiệt hại về người và tài sản.

Trận động đất mạnh nhất được ghi nhận 4,7 độ Richter, tâm chấn nằm ở ngoài khơi và độ lớn chưa đủ gây ra sóng thần. Các trận động đất này đều được ghi nhận bằng mạng lưới trạm địa chấn quốc gia và xử lý tại Viện Vật lý Địa cầu.

Những trận động đất có độ lớn trên 3,5 độ Richter đều được Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần thuộc Viện Vật lý Địa cầu thông báo kịp thời tới các cơ quan hữu quan, theo Quy chế của Chính phủ, trừ trận động đất có chấn tâm nằm trên lãnh thổ Trung Quốc./.

 

(Theo DWRM)

Vỏ trứng giúp chống biến đổi khí hậu!

There are no translations available.

Các nhà khoa học tại ĐH Calcutta (Ấn Độ) vừa công bố phát hiện gây "sốc": vỏ trứng có thể giúp chống biến đổi khí hậu!

Tác giả chính của nghiên cứu, Basab Chaudhuri, đã chứng minh màng vỏ trứng có thể hấp thụ lượng khí gây hiệu ứng nhà kính CO2 cao gấp 7 lần trọng lượng của chính nó, và các nhà khoa học có thể dùng vỏ trứng "nhốt" bớt khí CO2 cho đến khi các phương pháp năng lượng hiệu quả nhằm loại bỏ khí thải độc hại này được phát triển.

Vỏ trứng bao gồm 3 lớp: lớp màng biểu bì bề mặt, lớp xốp chứa canxi ở giữa và lớp bên trong. Lớp thứ hai và thứ ba bao gồm các protein dạng sợi giúp chuyển CO2 thành calcium carbonate.

 

cucnuoc5

Màng vỏ trứng có thể hấp thụ CO2 gấp 7 lần trọng lượng của chính nó

Lớp màng nằm ngay dưới lớp vỏ, dày khoảng 100 micromete. Nhóm nghiên cứu của Chaudhuri đã dùng một loại acid yếu, acid acetic, để tách màng từ vỏ làm chất hấp thụ CO2, và phương pháp tách cơ khí này sẽ hữu hiệu trong quy mô công nghiệp.

Trung bình có khoảng 6824mg CO, CO2 được hấp thụ bởi mỗi gam màng vỏ trứng.

Chaudhuri cũng cho biết con người có thể giảm lượng khí thải CO2 sau mỗi bữa ăn có trứng do sự tiếp xúc của màng vỏ trứng trực tiếp với không khí.

Khí CO2 đã tăng lên đáng kể từ giữa thế kỷ XIX, khi nhiên liệu hóa thạch, than, dầu, và khí đốt bắt đầu thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp. Sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu trong những thập kỷ gần đây phần lớn là do sự gia tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển.

Năm 2005, nồng độ CO2 cao gấp 3 lần lượng khí này trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp. Và theo thống kê, gần 300 tỉ tấn carbon đã được thải vào bầu khí quyển thông qua việc đốt các nhiên liệu hóa thạch và sản xuất xi măng từ năm 1751.

 

(Theo DWRM)

Na Uy giới thiệu chỉ số đầu tiên trên thế giới

There are no translations available.

cucnuoc4Chính phủ Na Uy cho biết trong tuần này sẽ giới thiệu cho cộng đồng quốc tế “chỉ số chính thức đầu tiên” trên thế giới do tình trạng của thiên nhiên, một công cụ được coi như là để tối ưu hóa các chính sách bảo vệ môi trường.

Theo Thứ trưởng Môi trường Na Uy, bà Heidi Soerensen, “Ý tưởng của chúng tôi là đưa ra một giải pháp khoa học cho vấn đề sức khỏe của thiên nhiên ở Na Uy để ra những quyết định chính sác về sinh thái học. Điều này mang tính quyết định để xác định những ưu tiên cơ bản trong chính sách của chúng tôi về vấn đề trên. Những tiến triển của chỉ số trên sẽ cho phép chúng tôi biết đo hiệu quả của những biện pháp chính trị đã được thông qua.”

Được thực hiện bởi 125 nhà nghiên cứu, chỉ số nói trên tập hợp 309 chỉ số về tình trạng của một số loài động vật và thực vật tiêu biểu và về những mặt khác của sự đa dạng sinh học như số lượng cây chết trong các khu rừng. Nó dự kiến sẽ được cập nhật cứ 5 năm/lần.

Cũng theo bà Soerensen, nhờ một số đặc điểm thích nghi với những đặc thù của các địa phương, chỉ số do tình trạng của thiên nhiên có thể sẽ được thông qua tại những quốc giá khác./.

 

(Theo DWRM)