NAWAPI

bannerTT_2

Thu05192022

Last update10:59:07 PM GMT

Nếu tiết kiệm được 10.000 lít nước/ năm, bạn sẽ làm gì?

There are no translations available.

tt96Đổ đầy một hồ bơi lớn cho gia đình? Dù bằng cách nào, chúng ta đều ý thức được việc nước không phải là nguồn tài nguyên vô tận. Đến một lúc lượng nước ngọt trên thế giới sẽ cạn kiệt và nguồn nước tái chế cũng không đủ cung cấp cho lượng dân số ngày càng gia tăng như hiện nay. Để viễn cảnh khan hiếm nước không xảy ra, ngay từ bây giờ chúng ta cần phải nâng cao nhận thức về việc tiết kiệm nước trong gia đình.  

Nước sạch rất quý

Trong toàn bộ lượng nước của thế giới, chỉ có 3% là nước sạch, và chỉ có một phần rất nhỏ trong con số 3% đó có thể dùng làm nước sinh hoạt. Theo báo cáo công của Ngân hàng Thế giới thì Việt Nam cũng không phải là quốc gia dồi dào về tài nguyên nước, hơn 60% nguồn dòng chảy các con sông Việt Nam đều xuất phát từ các quốc gia khác. Tháng 10 vừa qua, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước Lê Hữu Thuần cũng đã cảnh báo : “lượng nước mặt tính bình quân đầu người sẽ giảm từ mức 3.840m3/người/năm hiện nay xuống 2.830m3/người/năm vào năm 2015; và tương lai gần Việt Nam sẽ trở thành quốc gia khan hiếm nước”. Với ảnh hưởng của khí hậu đang nóng dần lên, lượng nước nói trên sẽ bị cạn kiện trong một ngày không xa. Vì vậy, các tổ chức xã hội đang ra sức kêu gọi người dân tiết kiệm nước.
tt95
Tiết kiệm nước bằng những sản phẩm “Xanh”
Để tiết kiệm nước, ngoài việc tập những thói quen sử dụng nước trong sinh hoạt hằng ngay, người tiêu dùng hiện nay còn hướng đến các sản phẩm thân thiện với môi trường như vòi nước cảm ứng, bồn vệ sinh tự động, máy giặt tiết kiệm nước…
tt94
Nổi bật trong xu hướng sản phẩm "xanh" gần đây nhất là chiếc máy giặt Samsung WA98G9 với khả năng tiết kiệm đến 10.000 lít nước/năm. Khả năng này là nhờ công nghệ giặt lốc xoáy siêu tiết kiệm nước Ecostorm do hãng điện tử Samsung phát triển. Với thiết kế hai mâm giặt xoáy kép chạy ngược chiều nhau, tạo luồng nước xoáy cực mạnh, máy giặt Samsung WA98G9 tạo các luồng nước đa chiều mạnh mẽ tác động đều lên khắp áo quần, giúp giặt sạch các vết bẩn hiệu quả với một lượng nước thích hợp hơn, nhờ đó tiết kiệm ước tính đến 10.000 lít nước/ năm
tt93
Các nhà sản xuất như Samsung đã đưa ra giải pháp là các sản phẩm công nghệ có khả năng tiết kiệm nước cao. Việc còn lại là thái độ và hành động của người tiêu dùng - hãy đặt câu hỏi cho mình - Nếu tiết kiệm được 10.000 lít nước/ năm, bạn sẽ làm gì?
tt92
(Theo 24h)

Nước ô nhiễm làm tăng chim trống đồng tính

There are no translations available.

Cò trắng là một trong những loài chim đang chịu ảnh hưởng tiêu cực từ việc ô nhiễm nguồn nước. Ảnh: Daily Mail.Nguồn nước ô nhiễm đang là nguyên nhân khiến số lượng của một số loài chim bị suy giảm do các chất hóa học độc hại trong nước khiến ngày càng nhiều chim trống trở thành đồng tính.

Các nhà khoa học thuộc Đại học Florida (Mỹ) phát hiện thấy rằng, hợp chất methylmercury – một dạng của thủy ngân có thể khiến những con trống của loài cò trắng trở thành đồng tính và không có ham muốn giao phối với con mái. Điều này khiến số lượng con non của loài cò này ngày càng giảm đi.
Hợp chất methylmercury được sinh ra khi thủy ngân ở trong môi trường nước có nhiệt độ cao. Loại hợp chất này thường tồn tại trong các nguồn nước gần những khu công nghiệp. Methylmercury thâm nhập vào cơ thể loài cò thông qua chuỗi thức ăn là các sinh vật như cá, ốc, ... sống ở những vùng nước bị ô nhiễm.
Theo tờ Daily Mail, các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm với 160 con cò trắng trống mới nở ở một vùng ven biển của Sri Lanka. Những con cò này sẽ được chia thành 4 nhóm. Nhóm thứ nhất được cho ăn những hực phẩm chứa 0,3 ppm chất methylmercury. Trong khi đó, nhóm 2 được cho ăn thực phẩm có chứa 0,1 ppm chất methylmercury và nhóm 3 là 0,05 ppm methylmercury. Nhóm 4 được cho ăn bằng thực phẩm sạch.

 

Kết quả cho thấy những con cò trống ở 3 nhóm đầu tiên có xu hướng thích kết đôi và làm tổ cùng với con cò đồng giới khác khi chúng trưởng thành. Cụ thể, 55% cò trống ở nhóm thứ nhất kết đôi với những con cùng giới. Trong khi đó, những con cò trống ở nhóm thứ tư không hề có biểu hiện này.

 

“Chúng tôi biết rằng chất thủy ngân có thể làm giảm lượng hoóc môn testosterone của những con cò trống. Nhưng chúng tôi rất bất ngờ khi tỷ lệ cò trống trong nghiên cứu của chúng tôi bị đồng tính lên tới 81%”, tiến sĩ Peter Frederick, người đứng đầu cuộc nghiên cứu cho biết.

 

Các nhà khoa học cũng tin rằng chất methylmercury có thể gây ra những tác động tương tự tới những loài động vật có vú.
(Theo DWRM)

Xử lý nước thải chăn nuôi bằng cây dầu mè

There are no translations available.

tt53Có cách nào thân thiện với môi trường, ít tốt kém, dễ thực hiện để xử lý nước thải chăn nuôi?
Câu hỏi ấy là một thử thách đối với Nguyễn Hà Phương Ngân - sinh viên Khoa Môi trường và Công nghệ sinh học ĐH Kỹ thuật công nghệ TP.HCM. Và cuối cùng cô đã tìm được câu trả lời với đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi bằng cây dầu mè (Jatropha curcas L.) trên mô hình bãi lọc thực vật”.
Mẫu nước thải chăn nuôi đầu vào được Ngân lấy từ một hộ gia đình chăn nuôi bò sữa ở xã Đông Thạnh, Hóc Môn, TP.HCM. Còn tìm cây dầu mè có phần khó khăn hơn.
Ngân nói: “TP.HCM cũng có cây này nhưng thường là cây lớn. Lúc đầu mình lấy hạt trồng nhưng do không biết cách chăm sóc nên số cây thu được không đủ thí nghiệm. Cuối cùng mình đón xe đêm đi Ninh Thuận để xin cây”.
“Quả ngọt” Ngân gặt được sau 30 ngày thí nghiệm, tốc độ phát triển của cây chính là cây cao gần gấp rưỡi chiều cao ban đầu, chứng tỏ cây có khả năng chịu đựng và thích nghi cao với nồng độ nước thải chăn nuôi, tốc độ phát triển của lá tăng 50% so với số lá ban đầu, khả năng tích lũy đạm trong cây cao đạt 39% lượng đạm đầu vào.
Trong đó, hàm lượng đạm tích lũy trong rễ 25%, thân 64%, lá 11%. Lượng đạm tích lũy trong đất cũng khoảng 39%, còn lại được vi sinh vật chuyển thành N2 thoát hơi...
Đây là giải pháp “nhất cử lưỡng tiện” khi vừa bảo vệ môi trường và hạt cây dầu mè là nguyên liệu sản xuất dầu sinh học (biodiesel - loại dầu sạch, thân thiện với môi trường) có giá trị kinh tế cao.
(Theo Monre.gov.vn)

Chế tạo thành công 5 chế phẩm vi sinh xử lý môi trường

There are no translations available.

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình vừa chế tạo thành công 5 chế phẩm vi sinh xử lý môi trường gồm EM1, EM5 (dạng lỏng), EMFPE, EM Pokasi MT, EM Pokasi CN (dạng bột). Thành công của nghiên cứu sẽ thúc đẩy sự hình thành một nền công, nông nghiệp sạch, góp phần tích cực phục vụ phát triển bền vững.        
Các chế phẩm sinh học được chế tạo từ chế phẩm vi sinh gốc EM1 bổ sung thêm các nguyên liệu đường, bã ngô, bột gạo, nước… tạo ra 5 chế phẩm vi sinh trên. Các chế phẩm này có tác dụng xử lý rác thải, nước thải, khử mùi hôi, bổ sung vi sinh vật có ích tăng độ tơi xốp cho đất. Giá thành của các chế phẩm rẻ hơn các chế phẩm vi sinh có cùng tác dụng đang bán trên thị trường.       
Thời gian qua tại Quảng Bình, các chất thải công nghiệp, nông nghiệp đã thải ra môi trường nhiều, lại chưa được xử lý triệt để, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại bãi rác phường Đức Ninh (thành phố Đồng Hới), nước thải của Nhà máy Bia Hà Nội, các trang trại chăn nuôi, hồ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh. Với thành công của nghiên cứu kể trên, Quảng Bình chủ động được các sản phẩm xử lý hiệu quả các chất thải ảnh hưởng đến môi trường và có giá thành giảm.
(Theo Monre.gov.vn)

Công bố bản đồ rừng ngập mặn trên trái đất

There are no translations available.

Bản đồ được cho là toàn diện nhất từ trước đến nay, do các nhà khoa học thuộc Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) và Cơ quan Khảo sát địa chất Mỹ (USGS) công bố.
Các nhà khoa học cho biết, sau khi phân tích dữ liệu từ Hệ thống vệ tinh chụp ảnh trái đất (Landsat) của NASA, họ ước tính rừng ngập mặn còn tồn tại chiếm 12,3% diện tích bề mặt trái đất (tương đương khoảng 137.760km2).
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Chandra Giri tại USGS, con số trên sẽ tiếp tục giảm trong tương lai: rừng ngập mặn toàn cầu đang biến mất nhanh chóng do biến đổi khí hậu làm mực nước biển dâng cao, phá rừng để phát triển kinh tế ven biển, làm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Theo số liệu của EO, Indonesia có 17.000 hòn đảo nhỏ và chiếm gần ¼ diện tích rừng ngập mặn trên thế giới. Tuy nhiên, các khu rừng này đã bị giảm một nửa trong ba thập kỷ qua - cụ thể giảm từ 4,2 triệu ha năm 1982 xuống còn 2 triệu trong năm 2000. Trong phần rừng còn lại, có gần 70% là “trong tình trạng nguy kịch và bị thiệt hại nặng”.
Tạp chí Science Daily cho biết, rừng ngập mặn được tìm thấy ở 118 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có khoảng 42% rừng ngập mặn trên thế giới được tìm thấy tại châu Á, theo sau là châu Phi với 21%, 15% thuộc Bắc và Trung Mỹ, 12% tại châu Đại Dương và cuối cùng là Nam Mỹ với 11%.
Theo Đài Quan sát Trái đất (EO) của NASA, rừng mập mặn là một trong những hệ sinh thái có mức đa dạng sinh học cao trên hành tinh và là hệ sinh thái đặc trưng của đường bờ biển nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Rừng mập mặn còn được xem là “vườn ươm” cho nhiều loài sinh vật biển, cung cấp kế sinh nhai cho cư dân ven biển, cũng như làm “lá chắn” hiệu quả trước những cơn bão và sóng thần. Tầm quan trọng của rừng này to lớn như thế nhưng qua nghiên cứu cho biết có chưa đầy 7% diện tích rừng ngập mặn trên thế giới là được bảo vệ bởi luật pháp.
(Theo Monre.gov.vn)

Khoa học công nghệ về TN&MT: Sử dụng phần mềm Modflow đánh giá nước dưới đất

There are no translations available.

Khu công nghiệp (KCN) cảng biển Hòn La (Quảng Bình) là một trong những dự án phát triển kinh tế vùng ven biển Bắc Trung Bộ và là khu công nghiệp tổng hợp, đa ngành và cảng biển của tỉnh. KCN này thuộc địa phận các thôn Vĩnh Sơn, Minh Sơn, Thọ Sơn, Đông Hưng và 19/5 thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch. Để KCN có thể tồn tại và phát triển, vấn đề cung cấp nước cho những mục đích khác nhau là một trong những yếu tố không thể thiếu. Chính vì vậy, việc đánh giá trữ lượng khai thác tiềm năng dưới đất làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp khai thác và bảo vệ nguồn nước trong khu vực có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn.  

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và nguyên tắc "dạng tồn tại của nước dưới đất", các nhà khoa học Nguyễn Văn Canh, Nguyễn Đình Tiến (Đại học Khoa học - Đại học Huế) đã chia vùng nghiên cứu thành 4 tầng chứa nước và một thành tạo địa chất rất nghèo nước đến cách nước.

Trên cơ sở các điều kiện địa chất thủy văn của KCN, các nhà khoa học đã áp dụng phần mềm Modflow để mô hình hóa quá trình thẩm định và đánh giá trữ lượng khai thác tiềm năng của nước dưới đất.

Để xây dựng mô hình tính toán, trên bình đồ vùng mô hình được phân chia thành mạng lưới ô vuông gồm 80 cột và 70 hàng, tổng cộng có 5.600 ô lưới, với kích thước mỗi ô lưới là 100x100 m.

Về tổng thể, các tầng chứa nước này có quan hệ với nhau chặt chẽ, tạo thành một thể địa chất chứa nước thống nhất phủ lên nền đá gốc cách nước (nằm ở độ sâu 40-60m). Trường thấm được mô phỏng gồm 4 lớp: Lớp thức nhất, vùng dọc ven biển và ở thôn Minh Sơn mô phỏng tầng chứa nước Holocen, vùng dọc chân núi phía Tây phân chia, vùng trung tâm và phía Tây mô phỏng tầng chứa nước Pleistocen và tầng chứa nước khe nứt - đứt gãy hệ tầng Đồng Trầu.

Lớp thứ hai, tại vùng thôn Vĩnh Sơn mô phỏng tầng trầm tích thấm nước rất kém. Còn ở các vùng khác tiếp tục mô phỏng các trầm tích lộ tại khu vực đó.

Lớp thứ ba tại vùng thôn Vĩnh Sơn bên dưới diện phân bố của tầng trầm tích, các nhà khoa học mổ phòng tầng chứa nước Pleistocen. Ở các vùng còn lại, mô phỏng tầng chứa nước khe nứt - đứt gãy hệ tầng Đồng Trầu.

Lớp thứ tư, toàn bộ vùng nghiên cứu được mô phỏng bởi tầng chứa nước khe nét - đứt gãy hệ thống Đồng Trầu.

Để giải bài toán thuận có khai thác, các nhà khoa học đã sơ đồ hóa toàn bộ các vùng có thể khai thác được của các tầng chứa nước thành một hệ thống bãi giếng khai thác bao gồm 962 lỗ khoan. Mỗi ô lưới được xem như một giếng khai thác, phân bố cách nhau 100m.

Phương pháp giải là phương pháp lặp. Ban đầu gắn lưu lượng cho từng giếng khai thác, sau đó chạy mô hình với thời gian khai thác 27 năm, cho ra kết quả mực nước trên toàn vùng và kiểm tra so sánh cao trình mực nước tính toàn khai thác với cao trình mực nước cho phép tại các lỗ khoan quan trắc mực nước. Nếu cao trình mực nước tính toán nằm dưới cao trình mực nước hạ thấp cho phép thì giảm lưu lượng khai thác tại các giếng lân cận lỗ khoan quan trắc mực nước và ngược lại.

Công việc trên lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi tại các lỗ quan trắc mực nước đều có cao trình mực nước tính toán khai thác gần và bằng với cao trình cho phép thì đảm bảo, tổng lưu lượng của tất cả các giếng khai thác chính là trữ lượng khai thác tiềm năng của nước dưới đất.

Từ các kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được trữ lượng khai thác tiềm năng là 8.351,56 m3/ ngày đêm, trong đó nguồn nước hình thành chủ yếu là trữ lượng tĩnh là 2.475,89 m3/ ngày đêm, nước mưa thấm trên diện phân bố 872,64 m3/ ngày đêm, thấm xuyên từ hồ Đồng Mười Dưới và Trên là 955,92 m3/ ngày đêm. Phần còn lại được cung cấp bổ sung từ các vùng địa hình cao phía Tây là 4.047,11 m3/ ngày đêm.

Nguồn trữ lượng khai thác tiềm năng chủ yếu là bổ sung từ các vùng địa hình cao phía Tây, trữ lượng tĩnh, thấm xuyên từ hồ Đồng Mười Dưới và trên và cung cấp của nước mưa trên diện tích phân bố. Các lớp trầm tích của đới thông khí và lớp thổ nhưỡng là cát mịn, cho nên nước dưới đất trong vùng rất dễ bị nhiễm bẩn bởi các nhân tố trên mặt, đặc biệt là các nhân tố nhân tạo.

 

(Theo Monre.gov.vn)