Sun10222017

Last update02:00:00 PM GMT

Bộ tiêu chí bảo vệ các tầng chứa nước trong trầm tích đệ tứ khi thi công xây dựng công trình ngầm

Quá trình hiện đại hóa các đô thị tại Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, các công trình xây dựng ngầm được quy hoạch và triển khai thi công xây dựng ngày càng nhiều với quy mô lớn nhỏ khác nhau như các công trình: móng cọc khoan nhồi, tuyến Metro, tầng hầm các công trình xây dựng. Quá trình thi công xây dựng các công trình trên đã tiến hành thi công khoan, khai đào qua nhiều tầng chứa nước khác nhau làm thông các tầng chứa nước tạo ra các cửa sổ ĐCTV, nước trong tầng bên trên có khả năng thấm xuống các tầng chứa nước bên dưới làm biến đổi chất lượng các tầng chứa nước bên dưới.

Phương pháp đánh giá trữ lượng trong điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất P3

3.2 . Phương pháp xác định trữ lượng tĩnh tự nhiên

1. Trữ lượng tĩnh trọng lực 

Trữ lượng tĩnh trọng lực là lượng nước trọng lực chứa trong các lỗ hổng, khe nứt của đất đá được xác định bằng công thức sau:

Vtn = m x F x Htb ( 12 )

Trong đó:

- Vtn là trữ lượng tĩnh trọng lực, m3

- F là diên tích của tầng chứa nước, m3

- Htb là chiều dày trung bình của tầng chứa nước, m

- m là hệ số nhả nước trọng lực

Xác định hệ số nhả nước trọng lực phải làm công tác thí nghiệm thấm, tuy nhiên trong một số trường hợp có thể xác định theo công thức thực nghiệm thông qua hệ số thấm hoặc tra theo thành phần đất đá được đề cập đến trong nhiều hướng dẫn chuyên môn

2.Trữ lượng tĩnh đàn hồi

Trữ lượng tĩnh đàn hồi chỉ có đối với các tầng chứa nước có áp, là lượng nước thoát ra được khi làm giảm áp lực của tầng chứa nước, được xác định bằng công thức (13):

Vtn* = m* x F x Htb ( 13 )

Trong đó:

- Vtn* là trữ lượng tĩnh đàn hồi, m3

- m* là hệ số nhả nước đàn hồi

- F        là diện tích phân bố của tầng chứa nước, m2

- Htb là cột áp lực trung bình của tầng chứa nước, m

Xác định hệ số nhả nước đàn hồi phải làm các thí nghiệm thấm, trong một số trường hợp có thể xác định bằng cách so sánh với các vùng tương tự.

3.3. Phương pháp xác định trữ lượng cuốn theo và trữ lượng có thể khai thác  

Trữ lượng cuốn theo được xác định để đánh giá hoàn chỉnh trữ lượng khai thác tiềm năng, còn trữ lượng khai thác dự báo được sử dụng làm cơ sở thực hiện công tác thăm dò nước dưới đất.

Trữ lượng cuốn theo và trữ lượng có thể khai thác được xác định bằng phương pháp thủy động lực và phương pháp mô hình số. Phương pháp thủy động lực được tính toán theo các công thức thủy động lực được mô tả đầy đủ trong các văn liệu chuyên môn khi đã sơ đồ hóa được điều kiện địa chất thủy văn.

Phương pháp mô hình số là phương pháp hiện đại dựa trên kết quả mô hình hóa điều kiện địa chất thủy văn. Hiện nay trên thế giới, nhất là các nước tiên tiến áp dụng rộng rãi việc xây dựng mô hình nước dưới đất. Các Công ty chuyên ngành ở các nước phát triển như Mỹ, Canada, một số nước Châu Âu đã sản suất các phầm mềm thương mại để mô hình hóa nước dưới đất. Sau khi đã xây dựng được mô hình có thể giải các bài toán thuận khác nhau, trong đó có việc đánh giá xác định trữ lượng cuốn theo, trữ lượng khai thác dự báo theo các phương án khác nhau.

Đánh giá trữ lượng có thể khai thác là việc làm bắt buộc khi thực hiện thăm dò nước dưới đất.

4. Lời kết.

Yêu cầu và mức độ chi tiết của việc đánh giá trữ lượng phụ thuộc vào giai đoạn điều tra, đánh giá NDĐ. Điều tra, đánh giá với mức độ càng chi tiết thì xác định các thành phần của trữ lượng nước dưới đất càng phải đầy đủ. Các phương pháp đánh giá, xác định trữ lượng nước dưới đất được lựa chọn áp dụng hợp lý mới xác định được trữ lượng NDĐ đủ độ tin cậy làm cho các đồ tài nguyên nước dưới đất có ý nghĩa sử dụng.

DL13Niềm vui gặp nước

Đánh giá trữ lượng nước dưới đất là việc làm cốt lõi của các công cuộc điều tra, đánh giá nước dưới đất. Người viết bài này hy vọng các bản đồ tài nguyên nước dưới đất được thành lập ngày càng có ý nghĩa, là các công cụ đắc lực, là các cẩm nang tốt cho công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất./.

(PGS.TS. Nguyễn Văn Đản)


Phương pháp đánh giá trữ lượng trong điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất P2

2. Đo thủy văn và tính toán biến đổi lưu lượng mùa kiệt các sông suối

Phương pháp này được áp dụng có hiệu quả ở vùng núi uốn nếp, nơi dòng chảy dưới đất thoát hoàn toàn ra sông suối với cơ sở khoa học là: về mùa khô, khi không có mưa các dòng chảy mặt được cung cấp hoàn toàn bởi các nguồn nước dưới đất. Việc đo đạc các sông suối vào mùa khô kết hợp với sự tính toán sự biến đổi lưu lượng mùa kiệt có thể xác định lưu lượng dòng chảy dưới đất với các tần suất đảm bảo cần thiết khác nhau.

Khi có chuỗi thời gian quan trắc dài, tiến hành lựa chọn các giá trị tuyệt đối tối thiểu, trung bình tháng tối thiểu, 3 tháng kề liền tối thiểu... của các năm quan trắc sau đo tính toán giá trị tối thiểu có tần suất cần thiết ( 85, 90 hoặc 95%) theo yêu cầu đánh giá tài nguyên nước dưới đất.

Khi có thời gian quan trắc ngắn, có thể kéo dài thời gian quan trắc bằng cách lập đồ thị so sánh lưu lượng giữa sông nghiên cứu với sông tương tự để xác định lưu lượng tối thiểu có tần suất tương ứng.

Khi biết lưu lượng dòng chảy dưới đất có thể dễ ràng chuyển đổi sang các giá trị môđuyn hoặc đại lượng cung cấp theo các công thức 5 dưới đây:

Mmin95% = Qmin95% / F x 103 ( 5 )

Trong đó:

- Q% là lưu lượng dòng chảy tối thiểu có tần suất 95%, m3/ng.

- Mmin95% là môđuyn dòng chảy dưới đất tối thiểu có tần suất 95%, l/s.km2

- F là diện tích lưu vực, ở vùng núi uốn nếp có thể chấp nhận lưu vực dòng chảy trên mặt bằng lưu vực của dòng chảy dưới dất, km2

Phương pháp mô tả rất thích hợp áp dụng ở vùng núi uốn nếp, cho hiệu quả cao. Vùng bán sơn địa cũng có thể áp dụng. Vùng đồng bằng không nên áp dụng.

Mật độ các trạm đo thủy văn phụ thuộc vào mức độ chi tiết (tỷ lệ bản đồ) của công tác điều tra, đánh giá, đề suất như sau. Khi lập bản đồ tỷ lệ 1:200.000, đo đạc tất cả các sông cấp I và II khi cần thiết cả các sông cấp III với mật độ trạm đo khoảng 1000-2000 km2/1 trạm; đối với tỷ lệ 1:100.000- đo đạc ở tất cả các sông cấp I; II và III khi cần thiết cả sông cấp IV với mật độ khoảng 500-1000 km2/trạm; đối vơi tỷ lệ 1: 50.000- đo đạc ở tất cả các loại sông suối với mật độ khoảng 50-500 km2 có 1 trạm.

3. Xác định gần đúng lượng mưa ngấm

Đại lượng cung cấp được xác định gần đúng theo công thức (6)

W = α X/365     (6)

Trong đó :

- W là đại lượng cung cấp, m/ng

- X là lượng mưa trung bình nhiều năm trong khu vực, mm/năm

- α là hệ số phụ thuộc vào thành phần thạch học của lớp đất đá trên cùng, thảm thực vật, độ rốc của địa hình… được định theo các sách hướng dẫn chuyên môn

Gía trị mô đun và trữ lượng động tự nhiên xác định theo các công thức (3) và (4).

Phương pháp này có thể áp dụng đối với tất các các tầng chứa nước lộ trên mặt, nó chỉ cho kết quả gần đúng nên chỉ áp dụng khi không có các phương pháp khác.

4. Các phương pháp thủy động lực

Các phương pháp thủy động lực dựa trên tính toán các giá trị lưu lượng dòng chảy dưới đất theo các công thức thủy động lực trong một số điều kiện cụ thể.

Đối với dòng chảy nước dưới đất có áp lực cũng như không có áp lực, nếu lập được bản đồ thủy đẳng cao hoặc thủy đẳng áp, có thể tính được lưu lượng dòng chảy dưới đất theo công thức (7):

Qtn = K x F x I                           ( 7 )

Trong đó:

Qtn là lưu lượng dòng chảy dưới đất, m3/ng

K là hệ số thấm trung bình của đất đá, m/ng.

F là tiết diện ngang của dòng chảy dưới đất, m2

I  là Gradien thủy lực xác định theo bản đồ thủy đẳng cao hoặc đảng áp.

Trong trường hợp hệ số thấm thay đổi theo diện tích thì xác định bằng công thức (8):

DL11

Ở đây: K1, K2 là hệ số thấm trung bình ở các tiết diện có diện tích tương ứng F1, F2

Đối với nước có áp lực, có thể xác định đại lượng cung cấp theo các công thức do Averianov và Kicelov đề xướng tương ứng theo tài liệu quan trắc của 5 lỗ khoan bố trí theo dạng phong bì đối với dòng chảy 2 chiều công thức (9) và 3 lỗ khoan bố trí theo chiều dòng chảy đối với dòng chảy 1 chiều công thức (10):

DL12

Trong đó:

- Q là lưu lượng dòng chảy dưới đất, m3/ng.

- qi là lưu lượng của mạch lộ riêng lẻ, m3/ng.

- n là số lượng mạch lộ

Phương pháp này chỉ thích hợp ở vùng núi uốn nếp, nơi nước dưới đất thoát nhiều dưới dạng các mạch lộ. Trong quá trình khảo sát cần điều tra đo đạc tất cả các suất lộ tự nhiên nước dưới đất trong vùng nên chỉ thích hợp khi điều tra, đánh giá sơ bộ hoặc chi tiết nước dưới đất (bản đồ tỷ lệ lớn) mới có thể làm được. (Còn nữa)

(PGS.TS. Nguyễn Văn Đản)



Phương pháp đánh giá trữ lượng trong điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất P1

LTS: Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước nói chung và nước dưới đất nói riêng hiện nay đang được đẩy mạnh. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các Thông tư 15/2007/TT-BTNMT, 16/2007/TT-BTNMT và 17/2007/TT-BTNMT quy định kỹ thuật lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất các tỷ lệ 1: 200.000, 1: 100.000 và 1: 50.000. Để thành lập được các bản đồ tài nguyên nước dưới đất, công tác đánh giá trữ lượng nước nước dưới đất cần được thực hiện theo nội dung, phương pháp thống nhất. Bài báo này đề xuất yêu cầu và hướng dẫn phương pháp xác định trữ lượng nước dưới đất ở các giai đoạn điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất khác nhau nhằm xây dựng được bản đồ tài nguyên nước dưới đất theo yêu cầu của các Thông tư kể trên.

PHƯƠNG PHÁP PHÂN CHIA VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM CÁC PHÂN VỊ ĐỊA CHẤT THỦY VĂN P3

4. Đánh giá đặc điểm vật lý của các thành tạo chứa nước, các đặc trưng về lượng và chất của nước dưới đất

 Các thông số vật lý của các thành tạo chứa nước bao gồm: chiều dày tầng chứa nước, chiều sâu đáy và mái tầng chứa nước, hệ số thấm (hoặc hệ số dẫn ), hệ số nhả nước của đất đá chứa nước... Chúng có ý nghĩa rất quan trọng, là những điều kiện quyết định mức độ giầu nước, xác định điều kiện khai thác nước dưới đất…

 Các  đặc trưng về lượng nước dưới đất gồm có: Chiều sâu mực nước cách mặt đất, chiều cao áp lực đối với tầng chứa nước có áp, lưu lượng hoặc tỷ lưu lượng của các xuất lộ nước tự nhiên và nhân tạo...

 Các đặc trưng về chất nước dưới đất gồm có: Độ tổng khoáng hóa, các ion cơ bản gồm: Na+, Ca+2,Mg+2, Cl-, HCO3-,CO3-2,SO4-2… các nguyên tố vi lượng và các thành phần đặc trưng khác như : pH, Eh, COD…

 Đánh giá mỗi một đặc trưng kể trên được thực hiện bằng cách thống kê đơn giản  với trình tự như sau: sắp xếp các giá trị của mỗi một đặc trưng thành chỗi theo thứ tự giảm dần, loại bỏ các sai số thô (quá nhỏ hoặc quá lớn ), tính toán các giá trị: trung bình số học, khoảng biến thiên, số trung vị.

 Giá trị trung bình số học đơn giản xác định bằng cách chia tổng các lượng biến (theo một tiêu thức nào đó) cho số đơn vị tổng thể theo công thức sau :

DL3

Số trung vị được xác định theo các cách sau đây:

- Nếu số đơn vị tổng thể là số lẻ thì số trung vị sẽ chính là trị số của số quan sát ở vị trí chính giữa. Khi đó dãy số lượng biến được chia thành 2 phần (phần trên và phần dưới số trung vị) và mỗi phần có số đơn vị tổng thể bằng nhau.

- Nếu số đơn vị tổng thể là số chẵn thì số trung vị sẽ là trung bình cộng của 2 số quan sát ở vị trí chính giữa .

DL4Phút nghỉ ngơi giữa tuyến lộ trình

5. Lời kết.

Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất thường phải thực hiện khối lượng công tác tại thực địa rất lớn với chi phí rất cao. Các công trình khảo sát thực địa có thể bị mất hoặc lãng quên, song chỉ còn báo cáo là tồn tại để sử dụng cho muôn đời. Trong đó, việc phân chia đúng đắn lãnh thổ nghiên cứu ra các đơn vị chứa nước và không chứa nước, đánh giá chính xác mức độ giầu nước và các đặc trưng của chúng là các vấn đề cốt lõi.

Người viết bày này hy vọng nó sẽ được quan tâm chú ý đúng mức để mồ hôi của những người khảo sát không bị đổ xuống một cách lãng phí mà tạo nên được các báo cáo, các bản đồ tài nguyên nước dưới đất  có chất lượng, có ý nghĩa sử dụng cho muôn đời./.

(PGS.TS. Nguyễn Văn Đản)


PHƯƠNG PHÁP PHÂN CHIA VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM CÁC PHÂN VỊ ĐỊA CHẤT THỦY VĂN P2

Phức hệ chứa nước được xem tương đương với tầng chứa nước, nhưng do mức độ phức tạp của điều kiện địa chất thủy văn hoặc mức độ nghiên cứu còn yếu chưa đủ điều kiện xếp thành tầng chứa nước.

Trong tầng chứa nước có thể chia ra các thấu kính chứa nước, lớp chứa nước (đối với các thành tạo bở rời) hoặc dải chứa nước (đối với các thành tạo cố kết).

Tên gọi của phân vị chứa nước phân chia được thống nhất theo trình tự: Tên phân vị ( tầng, phức hệ chứa nước), tên thành tạo chứa nước, địa tầng địa chất, thành phần đất đá chứa nước chủ yếu và kí hiệu của phân vị (để trong ngoặc ). Kí hiệu của phân vị địa chất thủy văn cần được thể hiện gọn, dễ hiểu, đảm bảo tính kế thừa kí hiệu địa tầng địa chất như các ví dụ sau đây:

- Phức hệ chứa nước các thành tạo lục nguyên, lục nguyên-các bonat Cacbon-Pecmi. Đá phiến, đá vôi, cát kết (c-p);

- Tầng chứa nước các thành tạo bở rời pleistocen. Cát, cuội, sỏi (qp);

- Lớp chứa nước các thành tạo bở rời pleistocen trên. Cát, sỏi, sạn (qp2);

- Dải chứa nước các thành tạo lục nguyên Trias trung, bậc Ladini. Dăm kết ( t2l).

Các đơn vị không chứa nước được chia ra: rất nghèo nước và không chứa nước. Các thành tạo rất nghèo nước là các thành tạo địa chất có tính thấm nước kém, lưu lượng các xuất lộ nước tự nhiên hoặc nhân tạo rất nhỏ không có ý nghĩa trong việc khai thác sử dụng tập trung. Các thành tạo không chứa nước có thể là các thành tạo địa chất có tính thấm nước rất kém, rất ít các xuất lộ tự nhiên hoặc. Các thành tạo rất nghèo nước và không chứa nước không tiến hành phân chia mà để nguyên các địa tầng địa chất.

2. Cách thể hiện kết quả phân chia các đơn vị chứa nước và không chứa nước

Kết quả phân chia ra các đơn vị chứa nước và không chứa nước được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Trong đó bảng tổng hợp và đồ thị là những phương pháp chính.

Bảng tổng hợp thể hiện các nội dung: số thứ tự, tên phân vị phân chia, diện tích phân bố ( km2), diện tích chiếm tỷ lệ,%. Hàng ngang liệt kê các phân vị phân chia theo thứ tự  các tầng chứa nước lỗ hổng -> các tầng chứa nước khe nứt -> các thành tạo rất nghèo nước và không chứa nước theo trình tự từ “trẻ” đến “ già”.

Đồ thị hình tròn thể hiện diện tích phân bố của các phân vị chứa nước và không chứa nước. Diện tích của cả hình tròn ( 100% ) là diện tích của vùng nghiên cứu, diện tích phân bố các phân vị địa chất thủy văn phần lộ trên mặt đất được tính tỷ lệ % so với cả vùng và thể hiện trên đồ thị theo thứ tự của bảng thống kê bằng màu xắc: xanh da trời cho các tầng chứa nước lỗ hổng, xanh lá cây cho các tầng chứa nước khe nứt, màu nâu nhạt cho các thành tạo rất nghèo nước, màu nâu đậm cho các thành tạo không chứa nước. Nếu vùng nghiên cứu có các tầng chứa nước bị phủ dưới mặt đất thì phải lập biểu đồ riêng. Nếu có các tầng chứa nước bị phủ thứ 2, thứ 3… thì mỗi tầng chứa nước bị phủ lập một  đồ thị.

Ví dụ minh họa. Các phân vị chứa nước và không chứa nước vùng Vĩnh Phúc, diện tích 1320 km2 có kết quả phân chia thể hiện ở bảng 2 và hình vẽ dưới đây.

DL1

3.Đánh giá mức độ giầu nước của các đơn vị  chứa nước

Để đánh giá mức độ giầu nước khi lập bản đồ địa chất thủy văn có thể sử dụng 1 hoặc tổ hợp 1-2 chỉ tiêu sau: Lưu lượng các mạch nước hoặc giếng đào (Q), l/s; tỷ lưu lượng (q), l/sm hoặc lưu lượng lỗ khoan (Q), l/s. Ngoài ra còn có thể xem xét đến hệ số thấm (k, m/ng) hoặc hệ số dẫn (km, m2/ng) của đất đá chứa nước; môđuyn dòng chảy dưới đất, môđuyn khai thác; diện phân bố, chiều dày và ý nghĩa thực tế của phân vị chứa nước…

Việc phân chia tầng chứa nước theo mức độ giầu nước thường áp dụng phương pháp 3 thang hoặc 5 thang. Phương pháp 5 thang gồm các mức độ: rất giầu nước, giầu nước, giầu nước trung bình, nghèo nước và rất nghèo nước. Phương pháp 3 thang gồm các mức độ: giầu nước, giầu nước trung bình và nghèo nước.

Việc phân chia tầng chứa nước theo mức độ giầu nước đang áp dụng ở nước ta hiện nay là phương pháp 3 thang: giầu nước, giầu nước trung bình, nghèo nước. Năng suất các điểm nước dùng để xếp vào thang giầu nước như bảng 3.

Bảng 3. Phân chia mức độ giầu nước theo năng suất các điểm nước

Mức độ giầu nước

Lỗ khoan

Lưu lượng mạch lộ hoặc giếng đào, l/s

Lưu lượng, l/s

Tỷ lưu lượng, l/s.m

Giầu nước

>5

> 0,5

> 1

Giầu nước trung bình

1-5

0,2-0,5

0,2- 1

Nghèo nước

< 1

< 0,2

>0,2


Các chỉ tiêu khác như tính thấm của đất đá chứa nước, diện phân bố và chiều dày tầng chứa nước, ý nghĩa khai thác của tầng chứa nước…hiện nay chưa được nghiên cứu định lượng

Tổng hợp đánh giá mức độ giầu nước chung cho cả tầng chứa nước thực hiện như sau:

Trường hợp thứ nhất, lưu lượng các điểm nước nghiên cứu phân bố không có quy luật, phải tổng hợp kết quả đánh giá các suất lộ nước riêng biệt, sau đó sắp xếp tính toán thống kê xác định các giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, giá trị trung bình số học và số trung vị để xếp chung tầng chứa nước vào 1 thang giầu nước.

Đối với các tầng chứa nước khe nứt, thang giầu nước của cả tầng được tính theo sự trội hơn của lưu lượng các điểm nước nghiên cứu, giá trị trung bình số học và số trung vị cũng nằm ở thang lựa chọn. Ví dụ, tầng chứa nước khe nứt karst trong đá vôi c-p được nghiên cứu ở 20 nguồn lộ, trong đó lưu lượng <0,2 l/s có 5 nguồn lộ chiếm 25%, lưu lượng 0,2-1 l/s có 7 nguồn lộ, chiếm 35%, lưu lượng >1 l/s có 8 chiếm 40%, giá trị  trung bình số học là 1,8 l/s, số trung vị là 1,95 l/s. Như vậy có thể xếp tầng chứa nước c-p vào loại giầu nước.

Đối với các tầng chứa nước lỗ hổng, thang giầu nước của cả tầng được tính theo tỷ lưu lượng hoặc lưu lượng của các điểm nước đạt trên 50% tổng số điểm nước nghiên cứu, giá trị trung bình số học và số trung vị nằm ở thang lựa chọn. Ví dụ, tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích holocen có 20 lỗ khoan nghiên cứu, trong đó tỷ lưu lượng <0,2 l/s.m có 3 lỗ khoan chiếm 15%, tỷ lưu lượng 0,2-0,5l/s.m có 11 lỗ khoan chiếm 55%, tỷ lưu lượng >0,5l/s.m có 6 lỗ khoan chiếm 30%, giá trị trung bình số học là 0,35 và số trung vị là 0,38 l/s.m. Như vậy có thể xếp tầng chứa nước vào loại giầu nước trung bình.

Trường hợp thứ 2, lưu lượng các điểm nước nghiên cứu biến đổi một cách có quy luật theo diện tích thì phải phân chia tầng chứa nước ra các khu có độ giầu nước khác nhau, việc tổng hợp đánh giá độ giầu nước cho mỗi khu thực hiện tương tự như trên.

Để đánh giá các thành tạo rất nghèo nước và không chứa nước thường dựa vào kết quả phân tích thành phần hạt của đất đá bở rời, quan sát mức độ nứt nẻ của đất đá cố kết hoặc kết quả xác định hệ số thấm của đất đá, năng xuất các xuất lộ tự nhiên và nhân tạo nước dưới đất. Các thành tạo rất nghèo nước là các thành tạo địa chất có tính hấp thụ và khả năng thấm nước rất nhỏ, không có ý nghĩa để khai thác tập trung, tuy nhiên ở các vùng khan hiếm nước cũng có thể tận dụng khai thác cung cấp với yêu cầu rất nhỏ, phân tán. Các thành tạo không chứa nước là các thành tạo địa chất không có khả năng hấp thụ hay thấm nước với hệ số thấm rất nhỏ, chúng đóng vai trò tầng cách nước. (còn nữa)

(PGS.TS. Nguyễn Văn Đản)