Mon01172022

Last update12:30:30 PM GMT

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo và Cảnh Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tỉnh Đắk Lắk Tháng 10 Năm 2021

Đắk Lắk là một tỉnh thuộc lưu vực sông Srê Pôk có diện tích tự nhiên là 13.125,37km2. Trong phạm vi tỉnh hiện nay có 45 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất và 01 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt.

Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng mưa năm bình quân từ 1.600 –1.800mm, trong đó lượng mưa mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa cả năm; mùa khô (từ tháng 12 – 4 năm sau) lượng mưa chiếm 10% tổng lượng mưa năm.

Tại Trạm Đức Xuyên (tọa độ địa lý: 12o10' vĩ độ Bắc 108o07' kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô huyện Lắk tỉnh Đắk Lắk; thuộc lưu vực sông Srê Pốk, diện tích lưu vực khống chế là 980 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Tổng lượng nướcMực nước trung bình tháng 9 năm 2021 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48835cm, tăng 90cm so với tháng trước, tăng 129cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 94cm so với tháng 9 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 48907cm (ngày 04/9), giá trị mực nước nhỏ nhất là 48907 cm (ngày 01/9). Trong tháng 9 năm 2021, tại trạm Đức Xuyên có lưu lượng nước trung bình tháng khoảng 66,4m3/s, tăng 28,7m3/s so với tháng trước, tăng 38,8m3/s so với tháng cùng kỳ năm trước. Trong tháng 9 năm 2021, tổng lượng nước trên sông Ea Krông Nô chảy qua mặt cắt ngang tại trạm Đức Xuyên khoảng 172 triệu m3, tăng khoảng triệu 71,0 triệu m3 so với tháng trước.

Chất lượng nước: Kết quả phân tích chất lượng nước sông và kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông Ea Krông Nô rất tốt, có thể sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

Đối với tài nguyên nước dưới đấtTrong tỉnh được phân chia thành 4 tầng chứa nước chính, bao gồm: Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp) và Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (n). Theo báo cáo thuộc dự án "Biên hội - thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc", tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước như sau: Tầng chứa nước (Q) 217.086 m3/ngày, tầng chứa nước (βqp) là 109.645 m3/ngày, tầng chứa nước (βn2-qp) là 3.112.316 m3/ngày, tầng chứa nước (n2) là 9.118 m3/ngày.

Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q)

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 9 dâng so với tháng 8. Giá trị dâng cao nhất là 0,61m tại xã Quảng Điền, huyện Krông Ana (LK76T).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,90m tại xã Quảng Điền, huyện Krông Ana (LK76T) và trung bình tháng sâu nhất là -1,44m xã Ea Kly, huyện Krông Păk (LK51T). Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp)

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 9 dâng so với tháng 8. Giá trị dâng cao nhất là 0,95m tại xã Pơng Drang, huyện Krông Buk (LK71T).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,85m tại xã Quảng Điền, huyện Krông Ana (LK75T) và trung bình tháng sâu nhất là -20,84m tại xã Pơng Drang, huyện Krông Buk (LK71T).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp)

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 9 có xu thế dâng so với tháng 8. Giá trị dâng cao nhất là 4,97m tại xã DLiê Yang, huyện Ea H'leo (LK30T).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,82m tại xã Ea Knuếc, huyện Krông Păk (C5a) và trung bình tháng sâu nhất là -34,04m tại xã Eatu, TP.Buôn Ma Thuột (C15). Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (n)

Theo kết quả quan trắc tại xã Ea Kmut, huyện Ea Kar (LK52T) mực nước trung bình tháng 9 dâng hạ không đáng kể so với tháng 8. Trong tháng 10 mực nước tại công trình LK52T nước có xu hướng dâng.

Xem chi tiết tại đây.


Newer news items:
Older news items: