Sat07312021

Last update02:00:00 PM GMT

Đồng bằng sông Cửu Long: Cần khai thác - sử dụng hiệu quả hệ thống giám sát nguồn nước cảnh báo cạn kiệt, xâm nhập mặn

Việt Nam là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó tài nguyên nước sẽ chịu những ảnh hưởng lớn nhất và sớm nhất, nơi chịu tác động mạnh nhất cả nước là vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Hiện tượng này đã xuất hiện rõ trong những năm gần đây và đã ảnh hưởng gay gắt đến nguồn nước của nước ta, điển hình là hiện tượng hán hán, xâm nhập mặn. Do vậy, vấn đề hạn hán và xâm nhập mặn sẽ là một vấn đề lớn cần quan tâm trong những vùng này. Sự xâm nhập mặn là biểu hiện của sự thay thế nước nhạt trong tầng chứa nước ngầm bởi nước mặn. Nó dẫn đến làm giảm nguồn nước nhạt hiện có chính vì vậy cần phải có hệ thống giám sát nguồn nước bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất.

12-2a-1Nhiều diện tích lúa thiếu nước ngọt trầm trọng trên vùng ĐBSCL.

Hiện trạng hệ thống giám sát tài nguyên nước ở nước ta

- Đối với hệ thống giám sát tài nguyên nước mặt, hiện nay có 06 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt đã được xây dựng và vận hành từ tháng 4 năm 2011 đến nay phân bố vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, mạng lưới quan trắc thủy văn quốc gia và môi trường cung cấp nguồn dữ liệu cơ bản phục vụ công tác dự báo, cảnh báo tài nguyên nước.

- Đối với hệ thống giám sát tài nguyên nước dưới đất hiện nay có 457 điểm và 819 công trình quan trắc trong các tầng chứa nước. Trong đó vùng đồng bằng Bắc Bộ: có 126 điểm có tổng cộng 198 công trình quan trắc, vùng Bắc Trung Bộ: có 96 điểm gồm 168 công trình. Vùng Tây Nguyên: có 123 điểm gồm 204 công trình. Vùng Duyên hải Nam trung Bộ: có 29 điểm gồm 41 công trình. Vùng Nam Bộ: có 83 điểm gồm 208 công trình.

Trong những năm gần đây, một số mô hình dự báo đã được áp dụng phục vụ cảnh báo nguy cơ suy giảm mực nước giúp người quản lý có định hướng trong vấn đề quản lý nguồn nước cũng như cấp phép khai thác sử dụng nước tại một số vùng Bắc Bộ, ĐBSCL, lưu vực sông Srêpôk, dự báo nguy cơ xâm nhập mặn trong các tầng nước nhạt do ảnh hưởng của khai thác nước dưới đất tại một số vùng đồng bằng Bắc Bộ, ĐBSCL. Tuy nhiên hệ thống giám sát tài nguyên nước còn nhiều hạn chế: phương tiện thiết bị quan trắc chủ yếu là thủ công và bán tự động do đó việc truyển tải số liệu từ các công trình, trạm quan trắc để phục vụ công tác cảnh báo và dự báo còn qua nhiều khâu và mất nhiều thời gian. Để tăng cường công tác dự báo và cảnh báo tài nguyên nước thì bên cạnh việc trang thiết bị, cơ sở dữ liệu hiện đại cũng cần thiết phải đào tạo đội ngũ cán bộ có chuyên môn, có trình độ cao trong và ngoài nước mới có thể phát triển được công tác dự báo, cảnh báo tài nguyên nước ngang tầm với các nước tiên tiến hiện nay.

Cần nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng hệ thống giám sát nguồn nước ở ĐBSCL

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều công nghệ hiện đại phục vụ cho hệ thống giám sát tài nguyên nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó Cộng hòa liên bang Đức là nước phát triển với nhiều công nghệ hiện đại hàng đầu thế giới, có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên nước nói riêng.

Để tìm ra giải pháp khoa học khả thi cho việc ứng phó được triển khai sớm nhất, ngày 17 tháng 11 năm 2017, chính phủ ra nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó xác định Bộ Tài nguyên và Môi trường nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo và dự báo về tài nguyên và môi trường. Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long” đã được hình thành và triển khai thực hiện, góp phần trong thực thi các nghị quyết của Chính phủ.

Sản phẩm dự kiến của đề tài nghiên cứu này là bộ cơ sở dữ liệu hệ thống giám sát nguồn nước trên nền tảng tích hợp dữ liệu, công nghệ được chuyển giao từ Cộng hòa Liên bang Đức nhằm phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, đề tài nghiên cứu này tận dụng được thế mạnh của các đối tác tham gia nghiên cứu, đó là: (1) nguồn số liệu quan trắc thủy văn, tài nguyên nước sẵn có phong phú và kinh nghiệm trong xây dựng các mô hình, phương pháp tính toán, dự báo tài nguyên nước của đối tác Việt Nam; (2) Kinh nghiệm về: quản lý dữ liệu không gian trên nền tảng GIS và WebGIS; công nghệ quan trắc tài nguyên nước của đối tác Cộng hòa Liên bang Đức. Sự phối hợp của 2 bên trong đề tài này sẽ đảm bảo đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra của đề tài.


Newer news items:
Older news items: