Fri10302020

Last update02:00:00 PM GMT

Tiềm năng khai thác nước dưới đất tỉnh Lạng Sơn, những khu vực có tiềm năng khai thác nước lớn tập trung trong các thành tạo có nguồn gốc đá vôi

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới thuộc phía Đông Bắc Việt Nam, phía Bắc giáp nước CHND Trung Hoa (biên giới chung dài 231,74km); phía Tây Bắc giáp hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn; phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang; phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, với 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính Chi Ma và 9 cửa khẩu phụ.
Với đà tăng trưởng về kinh tế, gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa phát triển mạnh như hiện nay cộng với sự biến đổi khí hậu, thời tiết, trong những năm tới nếu không có sự tính toán, cân đối sử dụng các nguồn nước một cách hợp lý thì tình trạng thiếu nước, mất cân đối sử dụng nước cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là khó tránh khỏi. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh một cách bền vững, việc điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nguồn tài nguyên nước dưới đất nói riêng và tài nguyên nước nói chung là rất cần thiết. Từ đó, làm cơ sở tính toán cân bằng, định hướng chiến lược khai thác, bảo vệ hợp lý chúng là điều cần thiết và cấp bách.
Đặc điểm địa chất thủy văn tỉnh Lạng Sơn có 1 tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích hệ Đệ tứ được đánh giá có mức độ chứa nước trung bình; 13 tầng chứa nước khe nứt, khe nứt karst trong đó có 2 tầng giàu nước là tầng chứa nước có ký hiệu c-p, d; 2 tầng chứa nước trung bình là các tầng chứa nước có ký hiệu p1-2, d1; còn lại 9 tầng nghèo nước; các thành tạo địa chất rất nghèo nước là các thành tạo magma xâm nhập.
Kết quả đánh giá trữ lượng có thể khai thác của các tầng chứa nước trong tỉnh Lạng Sơn là 537.041,9 m3/ngày; tài nguyên dự báo nước dưới đất bằng 1.790.139,68 m3/ngày.
- Trữ lượng khai thác đã được đánh giá trong phạm vi tỉnh Lạng Sơn gồm có:
+ Cấp C1: 12.430 m3/ngày;
+ Cấp C2: 411.320 m3/ngày;
- Kết quả đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới đất cho các tầng chứa nước có khả năng khai thác trong tỉnh Lạng Sơn:
+ Tầng chứa nước có trữ lượng nước dưới đất lớn nhất, phân bố rộng nhất trong tỉnh là tầng chứa nước t2 có diện tích là 2.279,66 km2, với trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác là 114.506,97 m3/ngày. Tầng chứa nước t1 diện tích phân bố là 1.718,24 km2 có trữ lượng khai thác nước dưới đất là 110.161,7 m3/ngày, tầng chứa nước t3 diện tích phân bố là 1.101,42 km2 có trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất là 88.813,26 m3/ngày.
+ Tầng chứa nước k, trữ lượng có thể khai thác bằng 42.735,77 m3/ngày.
+ Tầng chứa nước j, trữ lượng có thể khai thác bằng 22.985,68 m3/ngày.
+ Tầng chứa nước c-p, trữ lượng có thể khai thác bằng 113.003,96 m3/ngày, trữ lượng khai thác đã đánh giá là trữ lượng cấp C1 12.430m3/ngày.
Huyện Bình Gia có khả năng khai thác nước cao nhất trong tỉnh, trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất của huyện là 77.884,53 m3/ngày, các tầng chứa nước có triển vọng khai thác là d, t1. TP Lạng Sơn có trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất thấp nhất chỉ có 4.410,19 m3/ngày.
Tổng lượng bổ cập nước dưới đất là 1.148.780,32 m3/ngày. Tài nguyên dự báo nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là 1.790.139,68 m3/ngày. Mô đun dòng ngầm của các tầng chứa nước trong tỉnh Lạng Sơn có giá trị từ 0,009 l/s.km2 đến 9,637 l/s.km2, phân bố ở 5 cấp mô đun.
Chất lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tương đối tốt đảm bảo chất lượng sử dụng cho nhu cầu ăn uống sinh hoạt, cần chú ý vấn đề nhiễm khuẩn vi sinh của nguồn nước cần điều tra, tìm kiếm các nguồn gây bệnh.
1a-13Hình ảnh sản phẩm dự án bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỉnh Lạng Sơn

Dự án “Biên hội - thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 cho các tỉnh thành trên toàn quốc” với mục tiêu thành lập được bộ bản đồ tài nguyên nước dưới đất cho các tỉnh thành trên toàn quốc phục vụ công tác quy hoạch, quản lý bảo vệ tài nguyên nước dưới đất; góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin tài nguyên nước quốc gia. Dựa vào bộ sản phẩm của dự án, các tỉnh trên toàn quốc nói chung và tỉnh Lạng Sơn nói riêng sẽ có cơ sở để quản lý, quy hoạch và khai thác tài nguyên nước một cách hợp lý nhất, đảm bảo phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước dưới đất. Khu vực tỉnh Lạng Sơn, do tài liệu thu thập còn ở mức độ hạn chế do đó kết quả điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất chỉ ở mức độ tổng quan, nên những nhận xét, đánh giá cũng mang tính tổng quan. Vì vậy, khi sử dụng cần chú ý đến mức độ nghiên cứu, các đặc điểm địa chất thủy văn tương tự để áp dụng cho các vùng, các khoảnh cần điều tra.