Wed01202021

Last update10:29:34 PM GMT

Đáp ứng công tác quản lý, lập quy hoạch khai thác sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long

Dự án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long” do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền thực hiện trong phạm vi 4 tỉnh/thành phố là tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mau và Thành phố Cần Thơ. Nhiệm vụ chính của dự án là: Đo vẽ khảo sát địa chất thủy văn ; khoan nghiên cứu địa chất - địa chất thủy văn ; đo địa vật lý; lấy và phân tích các mẫu địa chất, mẫu nước; quan trắc động thái nước dưới đất…
Từ các kết quả nghiên cứu của dự án, ThS. Phạm Kim Trạch cho biết, Dự án xác định được các đặc điểm và đặc trưng cơ bản các tầng chứa nước, gồm diện tích phân bố nước nhạt (M<1,5g/l) và diện tích phân bố nước mặn (M≥1,5g/l), tính toán được tổng trữ lượng khai thác tiềm năng toàn vùng dự án; đánh giá được mức độ giàu nước, khả năng khai thác của các tầng chứa nước, khoanh được những vùng có triển vọng khai thác nước dưới đất; đánh giá khái quát độ tổng khoáng hóa, loại hình hóa học chủ yếu của nước dưới đất từng tầng chứa nước.
Dự án cũng đã lập được được bộ bản đồ chuyên môn tỷ lệ 1:100.000 theo quy định; Các thông tin, dữ liệu tài nguyên nước dưới đất của dự án đáp ứng cho việc quản lý, lập quy hoạch khai thác sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước cho các ngành và địa phương; 22 lỗ khoan thăm dò của dự án có thể bàn giao cho địa phương sử  dụng.

dapungctacquanly-1
Theo ThS. Phạm Kim Trạch, hiện tại vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long đang chịu áp lực bởi biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn, trong khi việc thực hiện các văn bản pháp quy về tài nguyên nước của Chính phủ, Bộ, Ngành chưa chặt chẽ, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học về tài nguyên nước dưới đất vào việc quy hoạch phát triển KT-XH chưa cao, mức độ nghiên cứu của dự án tương ứng với tỷ lệ bản đồ 1:100.000.
“Vì vậy, thời gian tới đề nghị các cấp bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục đầu tư điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất, lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất và bản đồ chuyên môn tỷ lệ 1:50.000 hoặc lớn hơn, trong đó đặc biệt chú trọng nghiên cứu các TCN nằm sâu như Pliocen giữa (n 2 2 ), Pliocen dưới (n 2 1 ), Miocen trên (n 1 3 ) và TCN khe nứt trong các đá trước Kainozoi (ps-ms). Điều tra, đánh giá xâm nhập mặn, nhiễm bẩn, sụt lún mặt đất, các yếu tố hình thành trữ lượng nước dưới đất và các yếu tố khác làm suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất làm cơ sở cho việc lập quy hoạch phát triển KT-XH bền vững của địa phương, vùng, miền” - ThS. Phạm Kim Trạch đề xuất.
Theo ThS. Phạm Kim Trạch, cần thiết phải lập quy hoạch vùng hạn chế khai thác, khoanh định và bảo vệ đới phòng hộ vệ sinh khu vực khai thác cho các nhà máy nước, bãi giếng cấp nước tập trung. Điều tra chi tiết hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất, từ đó xây dựng kế hoạch trám lấp toàn bộ các giếng bị hư hỏng hoặc không sử dụng,…
Tăng cường biện pháp chế tài, cấm khai thác và trám lấp các giếng có mực nước hạ thấp đến giới hạn cho phép theo quy định. Đối với các giếng đang khai thác, nếu có dấu hiệu suy giảm mực nước và chất lượng nước thì cần giảm công suất khai thác hoặc dừng hoạt động, đưa vào dự phòng hoặc trám lấp.
Trường hợp đầu tư xây dựng các giếng khai thác mới cần thiết kế sơ đồ khai thác hợp lý như bố trí các giếng cách xa ranh mặn, xa vị trí giếng khai thác cũ sao cho đảm bảo công suất tối đa, hạ thấp mực nước nhỏ, tác động môi trường tối thiểu và có tính khả thi cao để tiến hành đầu tư thăm dò, xây dựng nhà máy nước.
Đối với tỉnh An Giang và TP. Cần Thơ, những nơi tiếp giáp với sông Hậu, có thể bố trí giếng khai thác gần sông để có thể nhận được nguồn bổ cập trực tiếp từ sông (áp dụng đối với TCN có quan hệ thủy lực với sông). Để hạn chế xâm nhập mặn do khai thác nước gây ra có thể sử dụng giải pháp khai thác đồng thời, vừa khai thác nước nhạt phục vụ cho ăn uống sinh hoạt, công nghiệp, tưới và vừa khai thác nước mặn để nuôi trồng thủy sản nhằm tạo nên phân thủy giữa công trình khai thác với khối nước mặn. Tuy nhiên, việc khai thác nước mặn chỉ tiến hành trên các vùng đã được quy hoạch để không gây mặn hóa các vùng nước nhạt.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm kê, giám sát tài nguyên nước dưới đất có sự liên kết vùng, đồng thời tăng cường vai trò nhà nước và người dân cùng nhau quản lý tài nguyên nước, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, cũng như những tác động của các dự án phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long đến môi trường nước dưới đất.
Tăng cường công tác tuyên truyền về vai trò và tầm quan trọng của nguồn nước. Vận động các cấp, các ngành và toàn dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả gắn với bảo vệ mọi nguồn nước; tích cực phòng chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, quản lý chặt chẽ nước thải, chất thải làm ảnh hưởng đến nước dưới đất; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Nâng cao chất lượng thẩm định hồ sơ cấp phép, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, xử lý việc thực hiện các quy định của giấy phép. Hạn chế hoặc cấm cấp phép khai thác gần ranh giới mặn (M=1,5g/l) các tầng chứa nước, những nơi có dấu hiệu suy giảm mực nước,…Trong tương lai, các địa phương cần định hướng đầu tư xây dựng hệ thống thu gom nước mưa, thu gom nước thải sinh hoạt để xử lý và tái sử dụng nguồn nước này...


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: